|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 1:41 GMT+7

Trạng nguyên Nguyễn Trực – danh nhân đất Hà Thành

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi lẽ đó các bậc thánh đế   minh vương không ai không coi việc gây dựng nhân tài, tuyển chọn kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí làm việc quan trọng hàng đầu". Trong văn bia Tiến sĩ đầu tiên được dựng trong Văn Miếu Quốc Tử Giám, năm Đại Bảo thứ 3 (1442) có ghi như thế, và trên đó có tên vị Trạng nguyên Nguyễn Trực đứng đầu bảng vàng chói lọi. 

Nguyễn Trực (1417-1473) người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, cha là Nguyễn Thì Trung, một nhà thơ khá nổi tiếng đầu đời Lê. Nguyễn Trực thuở nhỏ thông minh, mới 18 tuổi đã đỗ đầu kỳ thi Hương, 26 tuổi đỗ đầu kỳ thi Đình và vinh danh Trạng nguyên đầu tiên triều Lê nước Đại Việt.

Trong văn bia Tiến sĩ đầu tiên do Thân Nhân Trung soạn có ghi: "Các quan đọc bài thi rồi dâng vua xem xét định thứ bậc cao thấp. Vua ban cho Nguyễn Trực đỗ  trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng Nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa".

Náo nức cùng các sĩ tử được đỗ đạt, được xướng danh treo bảng vàng, Nguyễn Trực nhận vinh hạnh lớn lao do nhà vua ban cho. "Nhà vua ban tước, phẩm trật để biểu dương; cấp mũ đai xiêm áo để thêm phần lộng lẫy, cho dự yến ở Quỳnh Lâm để tỏ lòng yêu mến. Lại cho ngựa tốt rước về quê để tỏ sự vẻ vang. Kẻ sĩ, người dân đất Tràng An khắp nơi kéo đến xem, đều ca ngợi thánh thượng sùng nho, xưa nay ít thấy".

Đỗ đạt và làm quan, đó là chí hướng của kẻ sĩ lập thân. Nguyễn Trực không nằm ngoài lẽ đó. Ông đỗ đạt, làm quan và rạng danh vào thời vua Lê Thánh Tông,  một thời kỳ thịnh trị vào bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây là thời kỳ được đánh giá là "vua sáng, tôi hiền", nhà vua và quần thần gắn bó với nhau thân thiết như thủ túc. Hơn nữa, nhà vua lại chăm lo văn trị, nuôi dưỡng hiền tài, nên khi các sĩ tử đỗ đạt đều được vinh danh để khuyến khích việc học và mang tài chí giúp đời. Văn bia Tiến sĩ đầu tiên còn ghi: Nay thánh thượng lại cho rằng, điều hay việc tốt tuy có vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ sáng soi mãi mãi, nên đã cho dựng bia khắc họ tên, dựng ở trước cửa trường Quốc Tử Giám.  Khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn, rèn giữ danh tiết, gắng sức giúp rập nhà vua.

quangninh24h trang-nguyen-nguyen-truc-danh-nhan-dat-ha-thanh-newsSinh thời, ông từng giữ nhiều chức vụ khác nhau trong triều và đều được các vua Lê đánh giá cao về họcdenthonguyentruc vấn và nhân cách thanh tao. Theo khảo cứu của một số nhà nghiên cứu thì ông được các vua Lê hết sức qúy trọng và kính nể. Vua Lê Nhân Tông vẽ hình ông để bên cạnh chỗ ngồi để tỏ ý không lúc nào quên. Còn vua Lê Thánh Tông thì kính trọng đến mức sai văn thần đem bộ Thiên Nam dư hạ đến tận chỗ ông ở để ông tiện phê duyệt.  Rạng danh trong nước nhờ tài năng và đức độ, nổi tiếng nước ngoài vì sự uyên thâm và tài đối đáp, ông đã giữ thể diện tốt đẹp cho nước nhà trong những lần đi sứ. Theo ghi chép trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Nguyễn Trực khi đi sứ   nhà Minh, nhờ tài năng thi ca và tài ứng đối thông minh, nên khi đối đáp với sứ thần nhà Minh là Hoàng Giám, ông đã một lúc hoạ xong ngay 50 vần thơ lưu biệt, có thể giữ được thể diện trong nước. Tương truyền khi ông đi sứ Trung Quốc, nhân kỳ thi Hội, vua nhà Minh mời các sứ thần tham gia, ông đỗ đầu (Trạng nguyên) nên từ đó được gọi là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Cùng với một nhân cách làm  quan thanh liêm là một tấm lòng luôn mong muốn về một chế độ hoà mục và tấm lòng cống hiến phò vua giúp nước. Điều đó thể hiện ở bài văn sách thi Đình của ông, và cũng chính từ dấu mốc vàng son đó đã đưa ông lên đỉnh vinh quang, để sau này, khi người ta nhắc đến thể văn Đình đối (tức là những bài văn thi Đình do vua ra đề thi cho sĩ tử) luôn gắn với bài Đình đối sách văn của Nguyễn Trực. Ông coi việc tiến cử cất nhắc nhân tài là việc làm cấp thiết của bậc minh quân trị nước. Nhưng muốn là như vậy thì nhà vua phải chăm bề tu đức, hội tụ đủ trí, nhân, dũng và giỏi dùng người. Theo đó, quan điểm của ông để xây dựng cơ sở cho một nền thịnh trị của đất nước cần có vua sáng tôi hiền, trăm quan tề tựu quanh vua đều có phong thái của bậc sĩ quân tử. Đề cao hiền tài là hào khí của lúc bấy giờ, vì "hiền tài là nguyên khí của quốc gia", điều này quan hệ đến sự hưng hay vong của đất  nước.

Trong bài văn Đình đối của ông có đoạn viết: "Ôi! Quân tử và tiểu nhân hoàn toàn trái ngược nhau: Đạo quân tử mạnh thì đạo tiểu nhân suy, đạo quân tử suy thì đạo tiểu nhân mạnh. Như âm - dương, sáng - tối không thể cùng nhau tồn tại, như nước - lửa, thơm - uế không thể cùng chứa một nơi. Cho nên người ở ngôi cao  trong khi dùng người phải trung hoà, phải chuyên nhất, phải thử thách phải thận  trọng mới được".

"Bệ hạ muốn quân tử tiến mà tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần bề tôi tiết tháo, sử dụng kẻ sĩ chính trực để họ dẫn vua đi đúng đường, đặt vua vào đúng chỗ không lỗi lầm".

Nguyễn Trực từng làm quan nhiều năm, trải nhiều trọng chức trong triều, nhưng lòng ông vẫn đau đáu nhớ về quê nhà. Là vị quan cao chức trọng nhưng trong tâm khảm của ông vẫn mơ về đời sống của một người dân bình dị với những thú vui hết sức tự nhiên. Trong thơ của mình ông từng tâm sự rằng: Hà nhật Tây Sơn sơn hạ lộ Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh. Nghĩa là: Bao giờ đến ngày được đứng ở bên đường dưới núi Tây Sơn, mặc áo tơi, đội nón lá xem cày ruộng trong tiết xuân.

Đánh giá về Nguyễn Trực, Thân Nhân Trung, người được xem là "độc thiện Tao Đàn đệ nhất danh", nghĩa là Người giỏi nhất trong hội Tao Đàn, từng viết: "Khai quốc Trạng nguyên, văn chương vẻ vang trong nước, nổi tiếng một thời. Triều vua nào cũng yêu chuộng, giữ việc văn hành, ở ngôi quán các, là người khiêm tốn, trước sau vẹn toàn". Đương thời nhìn nhận ông là một người tài năng hơn người, đức độ đủ đầy, văn chương rạng rỡ một thời. Nhắc đến tên tuổi của ông là người ta hình dung tới một nơi kết tụ sự hiểu biết của các triều vua điển văn học thuật ở chốn Hàn lâm. Ông là người có phong cách rất mực khiêm nhường, chan hòa. Người đời sau cũng coi đó là tấm gương sáng. Vua Tự Đức triều Nguyễn trong Việt sử tổng vịnh có khen Nguyễn Trực rằng: "Triều Lê lừng lẫy mấy ai tày".

Ngày nay, trước mỗi kỳ thi, sĩ tử Hà Thành lại thành kính đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám, với mong muốn tiếp thêm những hào khí của danh nhân thuở trước. Và chữ vàng Trạng nguyên Nguyễn Trực vẫn chói lọi trên bảng vinh danh, luôn khơi dậy niềm tự hào và ý chí phấn đấu cho thế hệ trẻ.

TCTH Hà Nội

Bình luận