Những chìm khuất trong đời Lê Hoan
Trong suốt một thế kỷ qua, Lê Hoan thường bị qui là kẻ “tay sai cho Pháp”, “bán nước cầu vinh” và “ra tay đàn áp cuộc khởi nghĩa Đề Thám”, chân dung con người thực vẫn chìm khuất trong bóng tối và người đời vẫn nhìn ông bằng con mắt ngờ vực
Lê Hoan (1856-1915), từ nhỏ có tên Lê Tôn, tự Ưng Chi, hiệu Mục Đình, thụy là Vân Nghị. Sinh quán tại thôn Cự Lộc, xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Thượng Đình, quận Đống Đa, Hà Nội). Trên thực tế, người đời biết nhiều đến Lê Hoan trên tư cách Tổng đốc các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thượng thư Bộ Binh kiêm Hữu đô Ngự sử viện Đô sát của triều đình Huế và từng giữ trọng trách Khâm sai đại thần Bắc Kỳ. Tuy nhiên, trong suốt một thế kỷ qua, Lê Hoan thường bị qui là kẻ “tay sai cho Pháp”, “bán nước cầu vinh” và “ra tay đàn áp cuộc khởi nghĩa Đề Thám”, chân dung con người thực vẫn chìm khuất trong bóng tối và người đời vẫn nhìn ông bằng con mắt ngờ vực. Điều này có lý bởi những người yêu nước một thời không thể biết được những việc làm bí ẩn mà chính Lê Hoan cũng cần che giấu, trong khi các nhà cai trị người Pháp đương thời dù nghi ngại cũng không muốn công khai hé lộ ra cái điều vốn bất lợi cho họ về mọi mặt. Tuy nhiên với sự góp sức của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, hình ảnh quan chức, nhà văn yêu nước Lê Hoan ngày càng trở nên rõ nét.
Khâm sai Lê Hoan, ngoài cùng bên trái (ảnh tư liệu)
Lê Hoan sinh trưởng trong một gia đình Nho học, nhiều đời đỗ đạt và làm quan trong triều. Trong khoảng thời gian 1892-1897, Lê Hoan được lệnh phối hợp với viên Đại tá Pháp Galliéni mở hai chiến dịch buộc Hoàng Hoa Thám ký thỏa ước ngừng bắn. Người Pháp nghi ngờ Lê Hoan có sự liên hệ, thông đồng với nghĩa quân Yên Thế. Sự thật, ngay từ năm 1892, Lê Hoan từng viết thư cho Đề Kiều:“Lúc này chống với quân Pháp phỏng có ích gì, vì họ mạnh hơn. Chúng ta hãy làm như đã từ bỏ sự nghiệp của người nước Nam mà chỉ thân thiện với Pháp thôi. Chúng ta phải kiên trì, rồi một ngày kia chúng ta sẽ tập hợp chống lại chúng và tống chúng ra biển. Thời cơ lúc này chưa đến. Tốt hơn hết là hãy ru ngủ chúng bằng tình bạn giả vờ của chúng ta” (Báo cáo ngày 13/10/1897 của viên chỉ huy Pennequin. Dẫn theo Thư gửi từ Pháp. Tạp chí Xưa và Nay, số 9-1998, tr.29)…
Bức thư trên lọt vào tay chỉ huy quân đội Pháp Pennequin và ông ta kết luận: “Chúng ta đang bị khối quan lại và Nho sĩ căm ghét, chúng không từ bỏ việc đánh đuổi chúng ta đâu”. Một bộ phận quan chức và giới báo chí Pháp lên tiếng yêu cầu xét xử Lê Hoan từng liên lạc và có biết trước về vụ phục kích nhưng lại không ngăn cản hoặc báo động cho quân Pháp biết. Kết quả là Lê Hoan không còn được tin tưởng, đã bị giáng hai cấp và chuyển đi nơi khác.
Bị người Pháp luôn ngờ vực và nhờ chính điều đó nên Lê Hoan được vua quan triều đình Huế coi trọng. Năm 1895, Lê Hoan được ông vua yêu nước Thành Thái phong là Tự Thiện Đại phu, Binh Bộ Thượng thư kiêm Đô sát viện Hữu Đô ngự sử, tước Phú Hồn Nam. Năm 1902, ông được giao làm Tuần phủ Hưng Yên, đứng ra xây dựng lại Văn Miếu hàng tỉnh. Năm 1903, chuyển sang làm Tổng đốc Hải Dương. Năm 1905, được giao kiêm nhiệm Đổng lý quân vụ Đại thần.
Ba năm sau, Lê Hoan lại bị nghi có liên hệ với nghĩa quân Đề Thám trong vụ “Hà thành đầu độc” (ngày 27-6-1908). Trong báo cáo tuyệt mật của Công sứ Lạng Sơn Du Vaure gửi Thống sứ Simoni ở Hà Nội cho biết việc bắt được một trong những thủ lĩnh dưới trướng Đề Thám là Dương Băng Úc cùng 14 người khác đã khai ra vụ “Hà thành đầu độc” là do một nhóm quan lại triều đình chủ mưu, trong đó có vai trò quan trọng của Lê Hoan: “Đây là những tên hoạt động cách mạng bản xứ mà tôi đã bắt cuối tháng 8 vừa rồi ở Lạng Sơn và dẫn giải đến văn phòng của ngài ở Hà Nội để thẩm vấn sau khi có những lời cáo buộc chúng chống lại các quan Tổng đốc Lê Hoan, Vũ Quang Nhạ, Trần Đình Lương và quan Đề đốc Thuật… Vụ án chuyển sang Tòa đại hình, nghĩa là phải giao toàn bộ các công chức bản xứ này cho báo chí xử lý. Tuy nhiên lại quá thiếu những bản sao lục để có thể nắm được cơ hội quá mức mong đợi này để bàn cãi dài dòng và để cho phía luật sư bào chữa thân chủ chỉ trích, những luật sư này sẽ không quên buộc tội Trần Đình Lương, Lê Hoan và những quan chức khác là những người đề xướng các vụ đầu độc ở Hà Nội và các hành động cách mạng khác”...
Hàng loạt các báo thời bấy giờ như Đông Dương (04/3/1897), Phương Đông (11/10/1896), Hải Phòng (07/9/1897), Tương lai Bắc Kỳ (03/4/1897), Nước Pháp quân sự (19/7/1910), sách lịch của lính thủy đánh bộ (1910)... đã viết bài lên án Lê Hoan gay gắt: “Có hay không việc Lê Hoan, viên Tổng đốc Bắc Ninh có tay chân xấu xa đã được ông ta thu nhận nhằm mục đích gây ra những rối loạn chính trị trong tỉnh?... Nếu ông ta có tội và là tên kẻ cướp xấu xa nhất Đông Dương, cần loại bỏ ông ta khỏi nơi mà ông ta không ngừng gây khó khăn cho chúng ta... Để làm được điều này, Chính phủ có hai cách: hoặc là đày ông ta đến đảo Guyane, hoặc là nói theo cách của nhà báo Mặt Giời, giáng lên đầu ông ta cánh tay pháp luật của nước Pháp từ lâu bị ngưng trệ”.
Nhà báo Pháp C. Morice viết trên tờ Phương Đông (11/10/1896): “Có phải Lê Hoan hoàn toàn trong sạch và nếu như vậy cần công bố rõ ràng kèm theo các chứng cứ. Hay là ông ta có tội, và dựa vào các hoàn cảnh, tội trạng của ông ta có tính chất đặc biệt nghiêm trọng và phải bị trừng trị nặng hơn so với việc hạ bậc”.
Từ hàng loạt bài báo và tài liệu của mật thám, các Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học thuộc địa của Pháp đã hạ bút kết tội Khâm sai Đại thần Lê Hoan trong cuốn Từ điển tác giả, Tác phẩm Tổng quát - Cổ điển và Hiện đại về Đông Dương thuộc Pháp (1935): “Năm 1909,... ông ta đã chỉ huy 400 thân binh để tìm cách bắt liên lạc với các toán phỉ ở Yên Thế. Cuối năm đó, ông ta bị kết tội làm những điều hại đến thanh danh và hùa theo trùm phỉ và cuối cùng là tội phản bội”...
Riêng ông vua yêu nước Duy Tân lại tỏ ra hiểu biết, tin cậy và trọng dùng Lê Hoan, quyết định bổ chức Khâm sai Bắc Kỳ và tấn phong tước Hoan Nam Tử (1909). Ở vào hoàn cảnh này, bề ngoài Lê Hoan càng cần che chắn, minh chứng khả năng ngoại phạm, bên cạnh đó lại cũng cố tỏ ra “mẫn cán” trong công việc. Tuy vậy, rút cuộc phía người Pháp vẫn không tin dùng Lê Hoan và chỉ mấy tháng sau khi được trao trọng trách Khâm sai toàn quyền trông coi xứ Bắc Kỳ, ông đã bị phế truất. Sự kiện này đã được H. de Rauville viết thành bài với nhan đề La Resvocation du Kham - sai Lê - Hoan (Việc cách chức Khâm sai Lê Hoan), in trên báo La Libre parole (Tiếng nói tự do) tại Paris, số 6569, ra Thứ bảy, ngày 10/4/1910.
Bài báo có đoạn nhấn mạnh: “Điện tín từ Đông Dương thông báo rằng ông Picquié, quyền Toàn quyền Đông Dương thay ông Klobukowski vắng mặt, vừa cách chức Khâm sai Lê Hoan chỉ huy quân diệt Đề Thám. Cùng lúc đó, Khâm sai vẫn tiếp tục chiêu hàng.
... Ông Klobukowski hoàn toàn tin tưởng Lê Hoan, người luôn chứng tỏ tấm lòng tận tụy đối với Toàn quyền và sự trung thành với nước Pháp. Nhưng những người hiểu rõ về phương Đông biết rõ sự tính hai mặt của Lê Hoan và sự nhẫn nhịn mà ông ta đã chịu để đợi thời cơ: mới đây Đề Thám cũng bày tỏ sự tôn kính tới ông Doumer, điều này không ngăn ông trở về căn cứ khi ông có thời điểm thuận lợi để làm điều đó...
Nếu chúng ta hiểu rõ tình hình, những linh cảm này chắc sẽ được thực hiện: Khâm sai Lê Hoan liên minh với Đề Thám; ông ta chia xẻ cho Đề Thám tiền mà ông được thuê để trả cho quân đội đến bắt Đề Thám. Cuối cùng, ông ta dùng uy tín mà chúng ta đã trao cho để kích động dân chúng chống lại “những người chinh phục nước ngoài”.
Ông Klobukowski, người hầu như chỉ ngồi làm việc trong các tòa lãnh sự và tìm hiểu rất ít về người bản xứ, không hề hay biết về những mánh khóe này; nhưng ông Picquié, một nhà thực dân chuyên nghiệp, lại không bị lừa: ông đã cắt đứt ý đồ của Khâm sai bằng cách đình chỉ công việc và yêu cầu xuất trình sổ sách.
Trong khi chờ đợi, thuộc địa Đông Dương lớn của chúng ta, vốn đã bị lung lay mạnh từ khi Nhật thắng lợi ở Mãn Châu Lý, hiện đang rất sôi động. Rồi đây trong cuộc khởi nghĩa tới, chúng ta có thể sẽ thấy Khâm sai và Đề Thám, thống nhất trong một tình bạn hữu gắn bó, nghĩa quân của họ được trang bị đầy đủ vũ khí và lương thực bởi sự chăm sóc của chúng ta, sẽ cùng sát cánh chống lại quân đội chúng ta”...
Dù chưa có đầy đủ bằng chứng xác thực, chưa bắt được tận tay nhưng các nhà thực sân sành sỏi đã cảm nhận, dự đoán và phần nào thấy được việc làm và mối quan hệ gắn bó giữa Lê Hoan với các cuộc khởi nghĩa miền thượng du Bắc Bộ. Họ hiểu được căn bản thái độ, tư tưởng, ý chí và mục đích sâu xa của ông quan yêu nước Lê Hoan… Qua hệ thống những sự việc, tài liệu mà người Pháp đã quan sát, theo dõi và viết về Lê Hoan có thể thấy ông thực sự là người có tư tưởng yêu nước chống Pháp. Việc Lê Hoan bị cách chức Khâm sai vào năm 1910 đã được đưa công khai trên báo chí tiếng Pháp với đầy đủ lý do kèm theo những lời phân tích, đánh giá, nhận định càng chứng tỏ sự thật về nhân cách và chiều sâu tinh thần yêu nước của ông trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ…
Có thể khẳng định ngay từ khi còn trẻ cho đến cuối đời, Lê Hoan luôn thể hiện rõ tinh thần yêu nước chống Pháp. Ông chấp nhận làm quan trong nội các triều đình Huế, thậm chí bề ngoài hợp tác với quân Pháp trong việc đánh dẹp phong trào khởi nghĩa Yên Thế nhưng đằng sau đó lại luôn có những hoạt động bí mật, vừa ngầm tiếp sức cho nghĩa quân vừa làm nội gián và tổ chức lực lượng chống Pháp. Nói cách khác, ông làm quan nhưng lại là nội gián, vừa là người ủng hộ các phong trào yêu nước, cộng sự của Hoàng Hoa Thám đồng thời bí mật tham gia tổ chức, điều hành lực lượng chống Pháp. Hành động và cách thức hoạt động của ông phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình thế của một quan chức giữa thời kỳ lịch sử phức tạp và đầy biến động hồi cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Nguyễn Hữu Sơn
- Trần Văn Lai – người giữ chức Thị trường đầu tiên ở Hà Nội (02/08/2013)
- Nguyễn Quý Đức (20/07/2013)
- Ngô Thì Nhậm (20/07/2013)
- Nguyễn Tri Phương – vị Tổng đốc tuẫn tiết vì Hà Nội (20/07/2013)
- Nguyễn Văn Siêu (1799 1872) (20/07/2013)
- Bùi Xuân Phái – Không chỉ tài hoa với Phố (20/07/2013)
- Tổng đốc Hoàng Diệu: Sống vì dân, chết cũng vì dân (20/07/2013)
- Thạch Lam nhà văn của 36 phố phường (20/07/2013)
- Nguyễn Tuân Bậc thầy sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (20/07/2013)
- Hiền thần Lý Thường Kiệt (20/07/2013)
- Hoàng Đạo Thúy (1900 1994) (20/07/2013)
- An Dương Vương trong tâm thức nhân dân ta (20/07/2013)
- Danh y, cố tổ Nguyễn Gia Phan (20/07/2013)
- Phạm Đình Hổ (17681839) (20/07/2013)
- Đặng Trần Côn (1715? 1750) (20/07/2013)
- Lê Thánh Tông vị vua hiền tài, nhà Văn hóa lớn của dân tộc (20/07/2013)
- Ngô Tử Hạ (18821973) (20/07/2013)
- Nguyễn Sơn Hà (1894 1980) (20/07/2013)
- Dương Khuê (18391902) (20/07/2013)
- Quách Văn Kế (18971976) (20/07/2013)