Nguyễn Siêu - Ngọn bút và đạo học
Cụ Nguyễn Văn Siêu sinh năm 1799 tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Lúc đầu có tên là Định, tự là Tồn Ban, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ. Trên các sáng tác về văn học ông vẫn thường lấy tên là Nguyễn Siêu.
Ông là trưởng tộc họ Nguyễn, thế hệ thứ 10, bên Đại Tông.
Ngay từ hồi nhỏ, ông đã theo gia đình rời làng ra ở nội thành Hà Nội, dựng nhà giáp Giang Nguyên, thôn Cổ Lương, phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương. Nhà ông ở ngay trên bờ sông Tô Lịch, chỗ đầu nguồn nối với sông Hồng ở phố Chợ Gạo. Sông Tô Lịch lúc đó chảy qua phố Nguyễn Siêu, ra Hàng Đường, sang Hàng Lược, rồi theo dọc phố Phan Đình Phùng bây giờ mà lên Bưởi. Di tích ngôi nhà này bây giờ ở vào khoảng hai nhà số 12-14 phố Nguyễn Siêu.Gần ngôi nhà số 20 là ngôi đình cũ của giáp Giang Nguyên, nơi mà Nguyễn Văn Siêu, sau khi mất, được tôn làm thành- hoàng. Dân làng thờ ông chung cùng với Tô Lịch Giang-Thần và Kinh-sư-đại-doãn Nguyễn-Trung-Ngạn (đời nhà Trần).
Ngôi nhà trên về sau được sửa thành trường dạy học của Cụ, có kiến trúc hình vuông nên mang tên là phương đình. Tại ngôi nhà này, ngay từ năm mới 12 tuổi, ông đã viết lên hai chữ Lạc-Thiên (có nghĩa là Yên vui với đạo Trời) "Lạc" là vui, vui thú, thích thú, yên vui. "Thiên" là trời, là vũ trụ cũng như đạo lý. Từ điển Hán - Việt giải nghĩa như vậy. "Lạc thiên" là yên vui với đạo trời. Cậu học trò ấy là Nguyễn Siêu (1799-1872), từ thuở ấu thơ đến lúc nhắm mắt xuôi tay, 74 tuổi đời sống trọn vẹn với đạo lý "Lạc thiên" ấy, để lại cho hậu thế cả một sự nghiệp đồ sộ về giáo dục con người và nghiên cứu học thuật, nhưng trước hết là nhân cách sáng chói về tài năng và đức độ và đôi câu đối dán trong buồng học:
“ Xưa nay. đạo học không đường tắt
Nhà tranh vẫn hay có người tài “
Lấy cái bất biến của đạo lý mà xem xét cái vạn biến của thực tại cũng thấy ý nghĩa thời sự, thâm sâu của những điều mà Nguyễn Siêu đã chắt lọc ra từ cả cuộc đời theo đuổi sự học, và trong đó có hơn ba mươi năm làm nghề dạy học của ông.
Năm 20 tuổi, ông đến tập văn ở trường Phạm Quý Thích. Cùng học với Ngô Thế Vĩnh (người cùng Cụ Siêu nghiên cứu về Nguyễn Trãi) và Chu Doãn Chí.
Năm 26 tuổi, ông mới bắt đầu đi thi và đỗ á nguyên (Cử nhân thứ hai) ở trường thi Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1838, trong vòng 13 năm, ông chỉ ở nhà đọc sách và dạy học. Đồng thời cụ kết bạn với Cao Bá Quát (bạn vong niên vì Cụ hơn Cao Bá Quát tới 10 tuổi), để rồi cùng nổi tiếng là “Thần Siêu Thánh Quát” về mặt văn chương thơ phú.
Năm 1838 (40 tuổi), Cụ mới cùng Cao Bá Quát lên đường vào Huế thi Hội. Họ Cao trượt, tuy rằng đã trượt 2 khoá trước và sẽ còn trượt, còn ông đỗ Tiến sĩ nhưng chỉ là phó bảng. Tại khoa thi Hội năm 1838 này, ông kết thân với Đinh Nhật Thân và Nguyễn Hàm Ninh, để rồi cùng nổi tiếng là bốn nhà văn kiệt hiệt ở kinh đô Huế gọi là Tràng-An tứ kiệt.
Sau khi thi đỗ, Nguyễn Văn Siêu được cử giữ chức Hàn lâm viện kiểm thảo. Năm sau thăng chủ sự bộ Lễ. Năm sau nữa thăng Viên ngoại lang bộ Lễ (thời Vua Minh Mạng).
Năm 1840, vua Thiệu Trị nối ngôi vua Minh Mạng. Vì chú ý đến tài năng của ông từ khi còn là hoàng tử, nên vừa lên ngôi vua Thiệu Trị đã cho chuyển ông về Nội-các làm Thừa-chỉ. ít lâu sau lại trao thêm chức Thị-Giảng dạy các hoàng tử Hồng - Bào, Hồng - Nhậm.
Năm 1847, hoàng tử Hồng-Nhậm lên ngôi là vua Tự - Đức.
Hai năm sau vua Tự-Định cắt ông đi xứ sang cống nhà Thanh bên Trung Quốc. Nhà vua dặn riêng ông: Khanh học vấn uyên bác, chuyến này sang xứ, xem xét non sông, phong tục nên ghi chép kỹ, khi về tiến lãm. Khi về (1850) ông dâng lên vua quyển Vạn lý tập dịch trình tấu thảo, được thăng Học sĩ ở Viện Tập hiền.
Năm sau lại thăng án sát Hà Tĩnh rồi án sát Hưng Yên kiêm luôn chức Tuần phủ. Thuở đó Hưng Yên hay bị vỡ đê, ông có gửi về kinh một số điều trần nhưng không hợp ý vua, ông bị giáng trật. Năm sau (1854) ông đệ đơn xin từ chức về nhà vui với việc dạy học và soạn sách.
Họ Nguyễn tại làng Kim Lũ nay còn giữ một bức chân dung của Thần Siêu, do một hoạ sĩ Trung Hoa viết trên lụa vào năm 1868 là năm ông mừng thượng thọ 70. Trên bức chân dung này chính ông đã đề vào một bài tán như sau:
“ Hoà sáng với bụi đời
Thì lòng ta chẳng thích.
Noi xưa vượt thới thường
Thì sức ta không kịp
Điều mắt thấy tai nghe
Chẳng có gì không thật
Tiến bước trong cảnh lui
Giữ sinh tồn muôn vật.”
Trong bài trên, ông đã giãi bày tâm sự và đã nói lên lý do tại sao ông đã treo ấn từ quan để trở về làm thầy đồ dạy học.
Nguyễn Siêu viết rất nhiều, có trên mười ngàn trang sách, bao gồm nhiều loại: nghiên cứu về Văn học, Sử học, Địa lý, Triết học và Sáng tác,
ông mất vào năm 1872, hưởng thọ 73 tuổi, để lại nhiều tác phẩm và được các học trò thu thập, khắc và in thành sách :
- Phương đình địa dư chí (Sử và Địa)
- Phương đình thi tập (Văn)
- Phương đình văn tập (Văn và Sử)
- Phương đình tuỳ bút lục (Văn và Sử)
- Phương đình vạn lý tập (Văn, Sử, Địa)
- Chư kinh khảo ước (Văn, Sử, Triết)
- Chư sử khảo thích (Sử)
- Từ thứ bị giảng (Văn, Sử, Triết)
Nguyễn Siêu là người tài rộng, đức cao, sự nghiệp đa dạng. Với tấm lòng thương dân, trong khi đi từ Bắc Ninh sang Hải Dương, ông chứng kiến cảnh cơ cực của đồng bào nên đã viết:
“Dân Bắc Kỳ khổ thay
Cặp xuân Mậu Ngọ (1858) này.
Đông, Tây chạy luẩn quẩn,
Đường thây chết đói đầy.
Dốc kho phát từng chén
Chờ cơm hàng tuần nay.
Hột gạo vừa tranh được
Đã đè nhau chết ngay.”
Tình trạng trên đây là do sự bất ổn của xã hội hồi đó (thời vua Tự Đức): binh đao không ngớt, hạn hán, lụt lội, mất mùa liên miên xảy đến làm dân vô cùng cơ cực lầm than.
Nguyễn Siêu tự bộc lộ là một nhà văn hoá có tầm cỡ ở thế kỷ thứ 19.
Kiến thức rộng lớn về non sông đất nước, phương pháp làm việc thận trọng, nghiêm túc đã đưa ông đến vị trí của một nhà Địa lý học lớn với công trình Dư hoa địa chí nổi tiếng. Tác phẩm này, ngoài tư liệu phong phú, sắp xếp khoa học, còn có một số phát hiện và kiến giải mới.
Nguyễn Siêu cũng rất chú ý đến Sử học và tỏ ra là một học giả có quan điểm Sử học dân tộc vô tư và vững vàng: ngay dưới thời triều Nguyễn mà triều đình vẫn coi nhà Tây Sơn là Nguỵ là Tặc, ai nói trái lại sẽ bị kết tội phản nghịch, nhưng trong bài Thăng Long hoài cổ ông đã kín đáo ca ngợi công ơn của nhà Tây Sơn là đã duy trì được nền độc lập tự chủ cho đất nước và bày tỏ nối niềm luyến tiếc ngậm ngùi:
“Tây Sơn ra Bắc đến Long Thành
Thấm thoắt nay đã bốn chục Xuân
Muôn thủa núi sồng người Việt chủ
Ba triều văn vật đất Nam mình
Mặt xanh tóc bạc người còn đó
Nước chảy mây trôi cảnh vắng tanh.
Thành lẻ, trời tà, Thu đã muộn
Người xưa chuyện cũ xót xa tình.”
Nguyễn Siêu đã kết hợp nhuần nhị giữa nhà khoa học và nhà thơ để trở thành một nhà giáo dục xuất sắc. Ông tỏ ra là một nhà sư phạm có quan điểm giáo dục tiến bộ khi chủ trương thực học và công kích lối học khoa cử.
Ngôi trường hình vuông của ông là một trung tâm giáo dục nổi tiếng của Hà Nội giữa thế kỷ thứ 19. Ngôi trường đó ở gần ngôi đền của làng Cổ Lương, ngày nay vẫn còn di tích “Cổ Lương linh từ” ở phố Nguyễn Siêu. Xưa kia, đấy là nơi học trò tứ trấn tìm về, xin ở đậu, ngủ nhờ để được đến Tòa Phương đình của thầy Nguyễn Siêu để được nghe giảng bài.
Là người Hà Nội, Nguyễn Siêu còn đưa vào văn thơ rất nhiều hình ảnh của Hà Nội ngày xưa qua các bài : Chơi Hồ Tây, Dong thuyền trên sông Nhị buổi sáng, chơi Hồ Gươm, Lên lầu chuông đền Ngọc, Trên núi Ngọc trông xuống...
Không chỉ làm thơ về Hà Nội và Hồ Gươm mà Cụ còn làm những việc thiết thực về văn hoá cho những nơi này. Chính ông là người đã cùng với Tín trai (Cư sĩ làng Nhị hà) đứng ra lập hội Hướng thiện, trùng tu thắng cảnh Hồ Gươm của Hà Nội, xây dựng và sửa sang Đền Ngọc-Sơn thành một nơi thắng tích rất đượm chất thơ với cầu Thê Húc (đậu ánh ban mai), lầu Đãi Nguyệt (đợi trăng); có tính cách văn học với đài Nghiên Tháp Bút cùng những câu đối nhắc kẻ sĩ phải trau dồi cả tài lẫn đức; có ý nghĩa xã hội như đình Trấn Ba (đình chắn sóng), ngăn chặn những làn sóng tệ hại làm sói mòn nền đạo lý xã hội. Với việc trùng tu đền Ngọc Sơn Nguyễn Siêu đã tỏ ra là một nhà kiến trúc có tài ,ông đã nâng vùng Hồ Gươm lên gần như quang cảnh ngày nay, đặc biệt còn để lại bút tích trên bức cuốn thư đắp nổi ở cổng Đền.
Nhà sư phạm và nhà thơ Vũ-Tông-Phan nổi tiếng cuối thế kỷ thứ 19 đã đánh giá công lao văn hoá của Cụ Nguyễn Văn Siêu như sau:
“Bút Phương đình một đời
Bên Hồ Gươm muôn thuở”
Con người ấy, danh nhân văn hoá ấy đã được người đời sau chung đúc lại bao lời ngợi ca trong hai câu mười chữ: "Nhất đại Phương Đình bút. Thiên thu kiểm thủy biên", tạm dịch là: "Một trời ngọn bút Phương Đình, nghìn năm bên hồ Hoàn Kiếm". Phương Đình là tên hiệu, là bút danh của Nguyễn Siêu, cũng là tên một ngôi trường do ông lập ra để dạy học; ngôi trường ấy định vị ngày nay ở vào khoảng các số nhà 12, 14 ngõ Trại Găng, phố Bạch Mai, tiếc rằng chẳng còn dấu tích gì còn lại."Tháp bút" cùng "Đài nghiên" do ông tạo dựng như một công trình kiến trúc góp vào quần thể kiến trúc khu vực đền Ngọc Sơn cùng cầu Thê Húc, trấn Ba Đình, nay trở thành di tích lịch sử văn hoá quốc gia của Thăng Long - Hà Nội, của cả nước với bao nhiêu tự hào về đạo lý, truyền thống văn hiến của dân tộc và của người trí thức, hiện lên trong ba chữ "Tả thiên thanh", tức là "Viết lên trời xanh" do chính tay ông viết và được tạo trên thân Tháp bút, như để nói với người đương thời và lớp hậu sinh một điều cốt tử: phải biết trọng sự học, sự hiểu biết - một sự học, sự hiểu biết thật ngay thẳng, thật trong trẻo đến vô cùng. Đó chính là sự minh triết của đạo học.
Vào đêm giao thừa cũng như trong ngày đầu năm mới, người Thăng Long - Hà Nội, người Việt từ nhiều miền của đất nước tản bộ quanh hồ Hoàn Kiếm, vãn cảnh đền Ngọc Sơn, dừng chân thắp nén hương thành kính tưởng nhớ, ghi ơn tiền nhân, càng khắc sâu đạo lý sống của dân tộc mà nguyện một lòng giữ gìn, bồi đắp.
theo bacbaphi.com
- Trần Văn Lai – người giữ chức Thị trường đầu tiên ở Hà Nội (02/08/2013)
- Nguyễn Quý Đức (20/07/2013)
- Ngô Thì Nhậm (20/07/2013)
- Nguyễn Tri Phương – vị Tổng đốc tuẫn tiết vì Hà Nội (20/07/2013)
- Nguyễn Văn Siêu (1799 1872) (20/07/2013)
- Bùi Xuân Phái – Không chỉ tài hoa với Phố (20/07/2013)
- Tổng đốc Hoàng Diệu: Sống vì dân, chết cũng vì dân (20/07/2013)
- Thạch Lam nhà văn của 36 phố phường (20/07/2013)
- Nguyễn Tuân Bậc thầy sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (20/07/2013)
- Hiền thần Lý Thường Kiệt (20/07/2013)
- Lương Ngọc Quyến (20/07/2013)
- Hoàng Đạo Kính "Hiệp sĩ" của những di tích kiến trúc (20/07/2013)
- Ông là vị Chủ tịch đầu tiên và lâu nhất Hà Nội (20/07/2013)
- Nhà văn Tô Hoài đi xuyên hai thế kỷ cùng Hà Nội (20/07/2013)
- Họa sĩ Bùi Xuân Phái (20/07/2013)
- Hai thế kỉ hưng khởi đầu tiên của Thăng Long Các danh nhân thời Lý (20/07/2013)
- Tô Lịch (20/07/2013)
- Đặng Trần Côn (Thế kỷ XVIII) (20/07/2013)
- Phan Văn Trường (1876 1933) (20/07/2013)
- Tạ Đình Đề (1917 – 1998) (20/07/2013)
