|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 1:33 GMT+7

Nguyễn Kiều - Đoàn Thị Điểm

Nguyễn Kiều(1695 - 1771) hiệu là Hạo Hiên, người làng Phú Xá, nay thuộc Phú Thượng, quận Tây Hồ, sinh năm 1695. Từ nhỏ Nguyễn Kiều đã nổi danh học giỏi. Năm 18 tuổi, đi thi lần đầu đỗ ngay giải nguyên. Năm 21 tuổi đậu tiến sĩ. Năm 1771, được bổ làm Đốc đồng trấn Tuyên Quang. Năm 1734, cải bổ vào Nghệ An, làm chức Đốc thị, hai năm sau thăng Thừa Tuyên trấn ấy. Ông lại từng là chánh sứ đi tuế cống nhà Thanh năm 1742 - 1745. 

Ông có tập thơ Hạo Hiên thi tập. Ngoài ra khi đi sứ, ông có thơ xướng họa với phó sứ Nguyễn Tông Quai (có sách ghi là Khuê), tập hợp thành bộ Sứ Hoa tùng vịnh. Xin trích một bài khi ông đi sứ qua tỉnh Sơn Đông: 
Vạn lý bình pha liệt hạng cư
Tục cao ngọa ốc nụy mao lư
Điền phu thốn chủy sừ tam độc
Lữ khách trùng nang giá sổ tư
Thân đạo trì khu song bí mã
Hoa triền giao thác nhất luân xa
Cô chiêm địa thế tri dân sản
Thúc mạch đa ư cốc mễ trừ.
(Muôn dặm đồng bằng ở xúm nhau
Nhà tranh lúp xúp, ngói xây cao
Nông dân làm ruộng bừa ba nghé
Hành khách dùng lừa chở cặp bao
Nào ngựa hai cương đi gấp rút
Lại xe một bánh đẩy xôn xao
Xem qua địa thế biết nông sản
Mì đậu trồng hơn lúa gạo nhiều)
(Bản dịch của nhóm Lê Thước)

Trước khi đi sứ, ông đến cầu hôn bà Đoàn Thị Điểm. Đương thời cho là ông có số phải lấy nhiều vợ. Bà vợ đầu là con gái đại thần Tham tụng Lê Anh Tuân. Bà này mất sớm, ông lấy con gái đại thần thượng thư Nguyễn Quý Đức. Bà này cũng sớm qua đời. Nguyễn Kiều nhờ người mối mai đến với bà Điểm. Ban đầu bị từ chối, ông không nản, tiếp tục qua lại. Cuối cùng trong thư chính thức cầu hôn, ông khẩn khoản trình bày: “Tôi rất bận việc quan. Vó ngựa hoàng hoa (đi sứ) đã gần ngày lên đường. Việc nhà không ai coi sóc và cai quản, tôi nghĩ rằng phu nhân cùng nội trợ tôi xưa có tình chị em, có phận keo sơn (người vợ trước là con gái Lê Anh Tuấn, vị đại thần từng đã nhận Đoàn Thị Điểm là con nuôi). Nếu phu nhân bằng lòng đùm bọc cho nội trợ tôi thì thực là may cho cả nhà tôi đó”.
Có lẽ vì cảm động về “quyết tâm” của ông Kiều, và có lẽ còn là “vì cây dây quấn” nên bà Điểm chấp nhận.
Cưới nhau được hơn một tháng, Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứ, mãi đến năm 1745 mới về. Trong ba năm vắng chồng, Đoàn Thị Điểm sống chẳng khác nào người “chinh phụ”. Có lẽ chính trong thời gian này (1742 - 1745), bà đã dịch ra quốc âm tác phẩm nổi tiếng của Đặng Trần Côn ra đời chưa lâu.

Năm 1748, Nguyễn Kiều được cử vào Nghệ An, giữ chức Đốc đồng. Đoàn Thị Điểm theo chồng, xuôi sông Nhị vào Nghệ An và mắc bệnh lúc đang trên đường. Đến trấn lỵ ngày 4 tháng 8 (âm lịch), bệnh bà đã nguy kịch lắm. Đến ngày 11 tháng 9 năm ấy, bà mất, thọ 44 tuổi, không có con cái. Thế là Nguyễn Kiều lại một lần nữa goá vợ. Có lẽ sau đó ông ở vậy (dù lúc đó ông mới 53 tuổi và còn sống thêm 23 năm nữa), vì tại làng quê Phú Xá của ông nay chỉ còn ba ngôi mộ của ba bà táng song song.

Tóm lại: Điều làm ông Kiều được sách vở nhắc tới không phải vì ông đỗ tiến sĩ, làm quan đến thừa Tuyên sứ - những vinh hoa này khối người đạt - mà ở vinh dự làm chồng của Đoàn Thị Điểm, một nhà thơ nữ tài hoa tuyệt vời.

Bình luận