|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 0:57 GMT+7

Nguyễn Bá Lân (1700 - 1786)

Nguyễn Bá Lân (1700 - 1786), sinh năm Canh Thìn (1700) tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (cũ), trấn Sơn Tây xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Thân sinh ông là Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng giỏi văn chương, từng được xếp hàng thứ 3 trong “tứ hổ” ở kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị Nhan, tam Hoàn, tứ Tuấn).

Ngay từ lúc còn nhỏ, Nguyễn Bá Lân đã rất ham đọc sách và ham tìm hiểu thế giới bên ngoài. Chuyện kể rằng, trên án của ông lúc nào bên trái cũng đặt bản đồ, bên phải đặt sách vở, để khi đọc sách nếu cần thì tra cứu. Được cha trực tiếp dạy dỗ một cách chu đáo, lại có tư chất thông minh, Nguyễn Bá Lân tiến bộ rất nhanh.

Năm 18 tuổi, tức là chỉ 3 năm sau khi học với cha, ông đã đỗ đầu kỳ thi Hương, để hai năm sau lại đỗ kỳ thi Hội, rồi kỳ thi Đình, đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Tân Hợi (1731) vào lúc ông 31 tuổi.

Nguyễn Bá Lân bước vào đường làm quan khá đặc biệt. Sau khi đỗ Tiến sĩ, chỉ một thời gian sau ông đã được cử làm Giám khảo kỳ thi Hội, rồi sau đó, do có nhiều công lao lại là người cẩn thận, siêng năng, thanh liêm, ngay thẳng, không xu nịnh, ông nhanh chóng được thăng nhiều chức, cả văn lẫn võ. Từ chức Phiên tào ở phủ chúa Trịnh Giang, đến đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786) đã làm Tả chấp pháp ở bộ Hình; năm 1744 bổ làm lưu Thủ trấn Hưng Hóa, sau làm Đốc trấn Cao Bằng. Tại cả hai nhiệm sở trên, ông đều có công lớn trong việc giữ gìn trật tự trị an trên vùng biên giới. Năm 1756, ông được triệu về kinh đô Thăng Long nhận chức Thiêm đô ngự sử, vào phủ Chúa giữ chức Bồi tụng (chức thứ hai sau Tham tụng), tước Lễ Trạch hầu, kiêm giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng). Năm 1765, ông về hưu mới được ít lâu đã được chúa Trịnh Doanh mời ra giúp việc từ tụng, chuyên xét xử án từ.

Đến năm 1770, ông dâng khải xin về hưu vì tuổi già, chúa Trịnh Sâm không chuẩn y mà vẫn giữ ông lại kinh đô để hỏi ý kiến khi cần thiết. Sau đó, ông được khôi phục làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Hộ, hàm Thiếu bảo, được liệt vào bậc Ngũ lão hầu. Chúa Trịnh Tông vẫn còn triệu ông vào hỏi việc lúc ông đã 84 tuổi. Hai năm sau ông mất, thọ 86 tuổi, linh cữu được rước về an táng ở quê nhà. Khi ông mất, được truy tặng chức Thái tể, tước Quận công. Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước. Những danh nhân đương thời đều nói về ông với những lời trân trọng nhất. Sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn về sau cũng viết: “Nguyễn Bá Lân... làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a dua”... (Đại Nam nhất thống chí).

Vũ Hoàng

Bình luận