|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 0:18 GMT+7

Lương Ngọc Quyến

Năm Ất Dậu (1885) giữa lúc tiếng đại bác giặc Pháp nổ rung kinh thành Huế, mở đầu một chương sử mất nước, thì ở trong ngôi nhà cổ số 4 Hàng Đào, Hà Nội, Lương Ngọc Quyến cũng cất tiếng khóc chào đời. 

Ông là con trai thứ hai Lương Văn Can – nhưng trong gia đình họ Lương có thói quen không phân biệt trai gái, cứ theo thứ tựu sinh trước sau mà gọi, nên ông được gọi là Ba Quyến. Nguyên quán ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội).

Từ khi đến tuổi thành niên, ông đã có chí khí. Trong gia phả, Lương Văn Can gọi ông là một người: bất cơ tức là không chịu bó buộc, quyết tâm thực hiện bằng được mọi hoài bão của mình.

Khi còn học cha ở nhà, Lương Ngọc Quyến tỏ ra thích học võ hơn học văn nên thường bị Lương Văn Can dùng thước kẻ đánh vào đầu. Sau đó, tuân lời cha, ông theo học cử nghiệp để mong có ngày đỗ đạt theo thói thường thời dó. Từ 15, 16 tuổi ông đã nổi tiếng học giỏi. Đến khoa Quý Mão (1903)1 ông thi khoa hương trường Nam Định, vì xuất vần bài phú nên bị đánh hỏng. Cảnh lại càng buồn khi vợ ông thấy ông thi không đỗ, tự ý bỏ đi, để lại cho ông một mụn con gái mới lên hai tuổi2.

Cũng bởi buồn rầu nên ông thường lui tới xóm hồng lâu Hàng Giấy, Thái Hà. Nhưng đến khi gặp được một nhóm thanh niên yêu nước cùng họp nhau lại thành một đảng thì tư tưởng ông đổi khác hẳn. Nhóm thanh niên này bảo nhau luyện tập sự sống rất là khắc khổ. Phàm là anh em trong đảng đều tuyệt đối cấm cờ bạc, rượu chè, thuốc xái. Ngày nào cũng phải tập thể thao, lấy sức đi bộ cho quen. Từ đấy Lương Ngọc Quyến hạ quyết tâm thôi hẳn chuyện đi hát cô đầu, lại cố gắng luyện tập đi bộ.

Lúc bấy giờ những sách cổ động dân quyền dân chủ của các nhà tư tưởng cách mạng Pháp 1789 cũng như những sách của những nhà duy tân ái quốc Trung Hoa đã truyền bá sang nước ta rất nhiều. Lương Ngọc Quyến được đọc những sách ấy, thấy rõ lối học từ chương là hủ lậu. Từ đấy ông không thèm theo đuổi thi cử nữa, nuôi ý chí tự cường, đi học cứu quốc. Năm Giáp Thìn (1904) có việc Phan Bội Châu Đông du, Lương Ngọc Quyến cùng cha là Lương Văn Can và anh ruột là Lương Trúc Đàm hợp sức cùng một số người yêu nước khác, giúp đỡ cho cụ Phan đi được. Sau Phan Bội Châu ở Nhật về nước, cùng anh em quyết định việc phái thanh niên học sinh sang Nhật cầu học. Lúc ấy Lương Ngọc Quyến 19 tuổi, đang sống trong cảnh phong lưu, lại có con nhỏ, không ai tưởng ông có thể dứt bỏ tất cả mà đi cầu học ở nước ngoài cho được. Nhưng ông khảng khái nói:

- Kia Đại Bỉ - đắc3 là vua nước Nga còn vứt bỏ phú quý tôn vinh mà đi nước ngoài để học lấy kỹ thuật cường quốc, huống chi là mình. Tôi xin làm tên tốt đầu của đội quân xuất dương đi trước anh em.

Thế là ông cả quyết từ biệt cha mẹ, gửi đứa con gái còn non tuổi lại cho cha mẹ nuôi, rồi ra đi.

Khi Lương Ngọc Quyến ra đi, bạn đồng chí đã xếp đặt có người tâm phúc làm việc ở một chiếc tàu từ Hải Phòng đi Hương Cảng, tức là người đã đưa Phan Bội Châu đi được hai chuyến an toàn, trót lọt. Nhưng Lương Ngọc Quyến lo việc lâu dài, bèn tính với bạn:

- Việc đi học còn cần phải nhiều người kế tiếp, nay mình mới nhờ có một chiếc tàu mà đi được thế này, vạn nhất tiết lậu, nghẽn mất đường thì sao? Mình phải lo mở ra nhiều con đường khác cho người đi sau mới được chứ!

Nghe lời Lương Ngọc Quyến nói phải, bạn đồng chí của ông tìm cách đưa ông theo con đường Móng Cái sang Trung Quốc, rồi đáp tàu sang Nhật. Ngày 14 tháng 8 năm Ất Tỵ (1905) ông từ Hà Nội cùng bạn đáp xe lửa đi Hải Phòng, trưa hôm 16 xuống tàu ra Móng Cái. Vì người bạn khi ở Hà Nội có quen con ông lãnh binh tên là Đào, làm quản đạo Móng Cái về hưu, nên hai người tìm vào nhà ông Lãnh Đào. Ở được ít hôm, biết ông cũng là người có bụng tốt với nước nhà, hai người bèn ngỏ lời nhờ ông giúp đỡ. Hôm sau ông Lãnh Đào dẫn hai người đến gặp người trưởng đoàn bên Đông Hưng tỏ hết công chuyện với người ấy, nhờ ông ta hỏi hộ kỳ tàu ở Bắc Hải để kịp xuống tàu. Người đoàn trưởng phái một thủ hạ đưa hai người đến Bắc Hải. Đã có thư người đoàn trưởng ân cần giới thiệu với chủ hiệu Long Hải, ông này đối đãi hết sức tử tế, lại nhân lời từ nay trở đi, hễ có người xuất dương đến đất đây chờ tầu thì sẽ cho trú ngụ. Thế là Lương Ngọc Quyến đã thành công trong việc mở một con đường xuất dương chắc chắn yên ổn cho những người sau.

Từ Bắc Hải, Lương Ngọc Quyến một mình xuống tàu đi Hương Cảng – ngày mồng 2 tháng chín năm đó tới Hương Cảng. Đến mồng 5 đáp tàu sang Hoạn Tân, ngày 14 tới nơi, ở lại một khác sạn để tìm gặp Phan Bội Châu.

Mùa thua năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu từ Nhật bí mật về nước được vài ba tháng phải lật đật xuống tàu xuất dương ngay vì mật thám Pháp đã dò biết, bủa vây rất ngặt. Trong Ngục trung thư, Phan Bội Châu viết:

“Tháng 10 năm ấy (Ất Tỵ 1905) tôi đến Hoành Tân, vô ở nhà trọ cũ thấy một vị thanh niên học sinh tên Lương quân Lập Nham4 đã tới đó trước rồi.

“Tôi xem ra người thật có khí phách hăng hái, đầu tóc còn để bờm xờm. Dò hỏi mới biết Lương quân bỏ nhà đi trốn sang Nhật, trơ trọi một thân, lúc lên bến thì hành trang vừa cạn, trong túi chỉ còn vẻn vẹn 3 đồng xu không hơn không kém.

Thấy thế tôi vừa vui vừa mừng vừa chưng hửng. Vì bạn nhỏ tuổi nước ta, một thân một bóng mà dám liều mạng xông pha sóng gió muôn trùng đến một nơi mình chưa biết bao giờ, Lương quân chính là người thứ nhất vậy.

Té ra Lương quân vốn là một thanh niên chứa sẵn kỳ thi, có hoài bão cao xa, chỉ nghe nói tôi đã sang đây cho nên mạnh bạo bỏ nhà ra đi, không kể gì mọi nỗi gian nan nguy hiểm.

Bọn thiếu niên anh tuấn nước ta sau đây có mấy người được như Lương quân?”

Khi gặp Phan Bội Châu, Lương Ngọc Quyến bày tỏ ý chí của mình mong được đóng góp vào công cuộc hoạt động cứu quốc của các bậc đàn anh. Nhưng sở vọng cấp bách của thanh niên lúc này là sự cầu học, trước hết là binh học mới mà Tổ quốc đang cần dùng. Bấy lâu ta thua kém quân thù môn học ấy, cho nên không tránh khỏi vấp ngã.

Hồi đó, Phan Bội Châu ra nước ngoài, lúc đầu cốt có mục đích cầu viện khí giới ở Trung Hoa hay Nhật Bản, song việc giao thiệp ở đâu cũng không được như nguyện. Sau đó, Phan xem xét tình thế thiên hạ, trở lại nhận rõ dân trí nước mình còn thấp kém, mà nhân tài thiếu thốn mọi bề, dù có xin được khí giới cũng không làm gì được. Phan đang băn khoăn lo nghĩ về vấn đề nhân tài, nay được nghe ý kiến Lương Ngọc Quyến càng thấy nuôi dưỡng nhân tài là việc khẩn thiết, bèn gác chuyện mưu tính quân giới mà lo lắng việc cổ động thanh niên xuất dương cầu học đã.

Ở Hoành Tân cùng Tăng Bạt Hổ vài tháng, Lương Ngọc Quyến đi Đông Kinh. Một mặt ông lo học tiếng Nhật để sửa soạn vào trường, một mặt gửi thư về nước thúc giục đồng chí mau mau lựa chọn thành viên phái sang cho đông.

Tiếp được thư ông thôi thúc, đồng chí trong nước lật đật phái người ra, trong số đó có cả em trai ông là Lương Ngọc Nhiễm tự Nghị Khanh, đã bỏ thi đỗ tú tài, lập tức lên đường – Trong lúc đó chờ đợi thanh niên trong nước tiếp tục đến, Phan Bội Châu hãy bắt đầu thu xếp cho mấy anh em đã sang trước. Ba ông Lương Ngọc Quyến, Trần Hữu Công, Nguyễn Điển vào học Chấn Vũ học hiếu tại Đông Kinh để nghiên cứu binh học, còn Lương Nghị Khanh thì học ở Đồng Văn thư viện, nghiên cứu về chính trị kinh tế.

Chấn Vũ là trường quân sự của Nhật mở cho học sinh Trung Quốc. Sau ba năm học ở Chấn Vũ, nếu tốt nghiệp thì được vào học hai năm ở trường sĩ quan. Chương trình học tập hàng ngày là tiếng Nhật, văn Nhật cùng các môn khoa học thường thức như toán học, sử học, địa lý, nhưng chú trọng nhất là học tập quân sự. Ngày nào cũng dành riêng buổi chiều để học quân sự. Thỉnh thoảng lại có những buổi sinh hoạt tập thể để học thêm về tinh thần đoàn kết, thân ái và chống Pháp. Du học sinh học tập dưới sự kiểm tra đôn đốc của Hội Cống hiến do Phan Bội Châu làm tổng lý kiêm giám đốc và gồm có bốn bộ: bộ kỷ luật, bộ kinh tế tài chính, bộ văn thư, bộ giao tế. Ngoài ra, có Cục kiểm tra do Lương Ngọc Quyến theo dõi công việc của nhân viên các bộ. Cống hiện hội mỗi tuần sinh hoạt một kỳ để kiểm điểm công việc và gây tình đoàn kết với nhau.

Giữa lúc ấy Hà Nội có phong trào Đông Kinh nghĩa thục mà Lương Văn Can là một lãnh tụ hoạt động tích cực. Trường Đông Kinh nghĩa thục mới mở được bảy tháng, giặc Pháp đã bắt đóng cửa, vì chúng sợ ảnh hưởng sâu đậm của nó. Lại thấy từ vụ đầu độc trại lính Pháp ở Hà Nội, có liên lạc với Đề Thám ở Yên Thế, cho tới phong trào biểu tình kháng thuế ở Quảng Nam và nhiều tỉnh Trung Kỳ, nhất nhất có ảnh hưởng của phái Đông du bên trong cho nên Pháp quyết định tìm cách trừ diệt bằng được.

Đầu năm Mậu Thân (1908), Pháp ký hiệp ước kinh tế với Nhật để cho hàng hoá Nhật đem sang bán ở nước Pháp cùng các thuộc địa Pháp đều được đánh thuế nhập cảng nhẹ hơn lệ thường. Để đáp lại, chính phủ Nhật hạ lệnh trục xuất cảnh ngoại tất cả đảng viên cách mạng và học sinh Việt Nam, hẹn trong 48 tiếng đồng hồ phải ra khỏi đất Nhật. Nhiều học sinh phẫn uất trước thái độ giở mặt của Nhật, liền bỏ sang Trung Quốc, sang Thái Lan hoặc trở về nước. Nhưng Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh và một số người khác thì tìm cách ở lại. Họ làm bộ thu xếp ra trường để che mắt thế gian, rồi vài ba hôm sau quay trở lại với căn cước khác. Mấy chính khách Nhật giao thiệp với sứ quan Trung Hoa hộ ta, thay đổi giấy tờ chứng nhận quốc tịch Trung Hoa, xong rồi anh em trở về trường học như thường. Giờ là học sinh Trung Hoa chứ không phải là học sinh Việt Nam nữa.

Đến năm 1911 Lương Ngọc Quyến thi tốt nghiệp đỗ thứ ba sau một người Nhật và Đường Kế Nghiêu, người Trung Hoa, sau này là đô đốc Vân Nam. (Theo ông Lương Dân Nguyên – con trai Lương Ngọc Quyến – nói thì hiện nay bên Nhật vẫn còn tấm bảng khắc tên 3 người đỗ đầu năm ấy).

Về giai đoạn này, Việt Nam nghĩa liệt sử (của Đặng Đoàn Bằng soạn, Phan Thị Hán tu đính)5 chép như sau:

“Sau khi Lương Ngọc Quyến tốt nghiệp, Bộ tham mưu Nhật vì lý do ngoại giao không cho ông vào liên đội. Ông yêu cầu với Tham mưu trưởng Phúc Đảo mà cũng không được. Ông tức giận mà nói rằng: “Chí của tôi là muốn học lục quân, nay đã không được vào liên đội thì còn luyến tiếc nước này làm gì nữa”. Thế rồi ông bỏ nước Nhật trở về Quảng Đông xin vào trường Lục quân trắc hội.

“Hai năm sau, vừa lúc cách mạng Trung Hoa lần thứ nhất nổi lên, nhà trường đóng cửa, ông đi Nam Kinh bày tỏ ý nguyện của mình với lữ trưởng Trần Du Thời, xin vào quân dinh luyện tập chiến thuật kỵ binh.

Không bao lâu Nam Kinh lại có cuộc cách mạng lần thứ hai. Ông đi Thượng Hải, mưu liên kết các đồng chí tổ chức một đội quân đánh Viên Thế Khải. Đang còn sắp đặt công việc thì thời cuộc biến đổi nên lại bỏ giở. Ông lại trở về Quảng Đông rồi lén về nước đưa một nhóm thiếu niên trong đó có Hoàng Chấn Đông, độ 10 người đồng thời xuất dương vào quân dinh Lưỡng Việt (Quảng Đông, Quảng Tây), còn ông thì đi lên Bắc Kinh vào Quan quân học viện. Chí ông là muốn được “về Long thành uống máu quân thì không thi da ngựa bọc thây cũng đành”. Mỗi lúc nằm nghĩ không giây phút nào bỏ quên điều đó, vì thế cho nên ông đã tự mình đầu quân để cho những người được ông dìu dắt cũng đều theo ông muốn tập luyện cho thông thạo việc súng đạn”.

Theo ông Lương Dân Nguyên – con trai Lương Ngọc Quyến – thì khi ở Trung Hoa, Lương Ngọc Quyến có nhiều bí danh, trong đó có một lên là Hồng Hy Cao. Ông được Phan Bội Châu quý mến bì có tài viết bút đàm nhanh, nên đi đâu Phan Bội Châu cũng cho ông đi theo. Ông cũng được các bạn Trung Hoa kính phục, trong báo Trung Hoa hồi bấy giờ đã có người viết bài khen ngợi ông.

Theo ông Trần Đình Sóc – cháu gọi Lương Ngọc Quyến bằng chú, (chồng dì) - kể lại thì: khi chưa xuất dương, Lương Ngọc Quyến có đến liên lạc với cụ Nguyễn Hữu Cương (tức Ấm Cương, con trai cụ Nguyễn Mậu Kiên) ở thông Động Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, là một bạn đồng chí của Lương Văn Can. Sau khi Lương Ngọc Quyến đi rồi, cụ cử Can biết cụ Ấm Cương có con gái út là Nguyễn Hồng Đính, bèn xin cho Lương Ngọc Quyến. Bà Đính từng theo học chữ Hán, có chất cứng cỏi như đàn ông, cũng đang có ý định xuất dương, vì thế cụ bà Ấm Cương bằng lòng gả cho Lương Ngọc Quyến (Khi ấy cụ ông vì hoạt động cách mạng đã bị Pháp đem an trí tại Cần Thơ). Cụ Cử Can phải tìm cách đưa bà đính từ Móng Cái sang Đông Hưng để làm lễ thành thân với ông Quyến, sau đó ông Quyến đưa bà sang Trung Quốc ở. Người đưa bà Đính sang Đông Hưng là em ruột bà, tên Nguyễn Công Tích (thân sinh đồng chí Nguyễn Danh Đới, xứ uỷ viên Bắc Kỳ Đảng Cộng Sản Đông Dương, đã hy sinh). Đến năm Nhâm Tý (1912) sinh một trai là Lương Dân Nguyên, đến năm sau Quý Sửu (1913) lại sinh một con trai là Tân Khải. Bà dong duổi theo chồng khắp nơi từ Thượng Hải, Hàng Châu, Hương Cảng cho đến Ngô Lĩnh trên đất Trung Hoa.

Hai lần Lương Ngọc Quyến từ Trung Hoa bí mật về nước để lo việc tiếp tế tài chính cho Quang phục hội và tuyên truyền vận động trong nước; ông đều ghé qua nhà chị ruột bà Đính là Nguyễn Phượng Trừu (mẫu thân ông Sóc) ở phố Giá Nửa Nam Định (nay là nhà số 7 phố Bến Ngự) để nhờ bà Trừu dẫn sang Động Trung. Theo ông Sóc kể lại thì Lương Ngọc Quyến người phương phi, trắng trẻo, đầy đặn, khi giao thiệp rất ôn tồn, hoà nhã nhưng tính tình lại rất quả quyết (Cách mạng cận đại Việt Nam tập 3 cũng nói Quang Phục hội cử Lương Ngọc Quyến về Bắc Kỳ vận động tài chính).

Đến Bắc Kinh vào học trường Quân quan được mấy tháng, nhận thấy chương trình đã học bên Nhật cả rồi, liền bỏ trường Bảo Định mà đi Võ Xương. Đến đây, ông được Lê Nguyên Hồng thu nạp bổ chức thiếu ta coi một lữ đoàn lục quân.

Song thấy việc nhận những chức vụ này cũng không đưa lại lợi ích thiết thực gì. Ông bèn từ chức ở Hán Khẩu, trở về Quảng Đông tìm kiếm đồng chí Việt Nam đã lập thành cơ quan do chính Phan Bội Châu phụ trách. Đó là tổ chức Việt Nam Quang phục hội mà Lương Ngọc Quyến đã được cử làm uỷ viên quân vụ trong Bộ chấp hành. Không ngờ cơ quan đã bị phá vỡ do cuộc giao thiệp khôn khéo giữa toàn quyền Xa-rô (Sarraut) với Long Tế Quang đô đốc Quảng Đông lúc ấy. Long Tế Quang vừa được hối lộ nhiều, vừa sợ Pháp uy hiếp, liền hạ lệnh giải tán cơ quan cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu và bắt giam những người trọng yếu, trong đó có Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng. Lương Ngọc Quyến liền đi Quế Lâm và Nam Ninh tìm gặp những đồng chí chạy về các nơi đó, để mưu hành động. Lúc này cục diện Âu Châu đã bắt đầu sôi nổi. Đức ngầm tổng động viên sắp sửa đánh Pháp đến nơi. Cho là cơ hội đã đến, các đồng chí ở Quế Lâm bàn định kiếm một số tiền lớn, phần mua, phần mượn khí giới của cách mạng Trung Hoa, mộ dân Trung Hoa ở biên giới tổ chức thành mấy đội quân phục quốc, đã có ông Lương Ngọc Quyến và mấy đồng chí nữa có học thức có kinh nghiệm quân sự lĩnh việc huấn luyện chỉ huy. Rồi ta khởi binh từ biên giới đánh sang thượng du Bắc Kỳ, chiếm lấy mấy nơi làm căn cứ, hô hào dân chúng dấy lên, nội ứng ngoại hợp, cùng đánh kẻ thù trong khi chúng phải bối rối vì việc chính quốc đang bị đe doạ nguy ngập. Nhưng rồi ý đồ lớn lao ấy không thực hiện được.

Vào khoảng giữa năm Giáp Dần (1914) Lương Ngọc Quyến, đáp tàu ở Hương Cảng thẳng về Chợ Lớn, ở trà trộn giữa xã hội Hoa Kiều, dò thăm tin tức đồng chí. Sau đó ông đến ở nhà Nguyễn Thượng Khách ở làng Mỹ Phước gần châu thành Long Xuyên bàn bạc với một số đồng chí về phương châm khởi nghĩa đánh Pháp. Nhiều người cho rằng lúc này có thể thừa cơ nổi dậy, nhưng Lương Ngọc Quyến thấy cần phải chuẩn bị lực lượng trước đã. Các đồng chí dự hội đều tán thành kế hoạch “khẩn điền luyện quân” ở bên Thái Lan, giao cho Lương Ngọc Quyến phụ trách huấn luyện. Theo kế hoạch ấy sẽ lập một nơi làm ruộng đốn cây to tát, chiêu tập hết anh em đồng chí các nơi về ở cả đây, lại chọn lựa những kiều bào ta ở Thái Lan, có ai còn nhớ tới Tổ quốc thì cùng quy tụ lại, tất cả lấy dăm ba ngàn người, bề ngoài chuyên việc thực nghiệp, mà bề trong thì huấn luyện quân sự. Lương Ngọc Quyến cùng mấy đồng chí nữa cũng có kiến thức quân sự như ông, sẽ ở Trung Hoa đưa sang, cùng ra sức rèn tập cho dăm ba ngàn người ấy thành một toán quân mạnh mẽ. Rồi chờ cơ hội, sẽ mưu với các nước bán khí giới cho mình, bấy giờ nhất cử kéo về nổi hiệu cờ Quang phục.

Mùa thu năm Giáp Dần (1914), ông từ giã Long Xuyên, xuống tàu thuỷ lên Nam Vang thăm cha già đã cách biệt mười năm, định sẽ từ Nam Vang đi đường bộ lên Bát-tam-bang qua Thái Lan rất tiện. Nhưng lên Nam Vang mới ở có mấy ngày đã có tin mật báo cho hay Pháp đang tầm nã ráo riết, vì hành tung đã bại lộ. Đầu tiên ông định chạy thẳng sang Thái Lan, nhưng lại nghĩ: nếu sang Thái Lan cũng nguy. Vì bà con ta thù ghét chính sách đô hộ trốn sang ở Thái Lan nhiều, cho nên Pháp tổ chức công việc do thám rất chặt chẽ, ngay trong sứ quán Pháp tại Băng Cốc có một cơ quan riêng để dò xét hành động của những người Việt Nam yêu nước. Nghĩ vậy, ông trở xuống Sài Gòn, lẩn lút ở Chợ Lớn vài tuần mới thu xếp được với thuỷ thủ Hoa kiều ở dưới tàu nhờ họ đem đi trốn ở Hương Cảng. Ông nghĩ Hương Cảng là tô giới Anh mà nước Anh vốn được tiếng là tôn trọng công pháp quốc tế đối với chính trị phạm, sang đây hẳn không lo điều gì bất trắc xảy đến. Khi đến Hương Cảng ông lên bờ, ngụ ở một nhà trọ quen, đang mừng thầm, đã thoát khỏi nguy hiểm, bỗng một buổi sớm bọn cảnh sát mật thám Anh rầm rộ vây nhà, bắt ông và dẫn đi.

Trước mặt viên cảnh sát trưởng Anh, ông giữ thái độ rất trấn tĩnh không lộ vẻ gì hoảng hốt, một hai nói mình là người Trung Hoa làm ăn lương thiện.

Mặc cho ông chối cãi, ty cảnh sát chính trị Anh cứ cho giải ông đến đối chất ở Lãnh sự quán Pháp. Sự thật chính viên lãnh sự Pháp nhờ mật thám Anh ở Hương Cảng bắt hộ.

Tại đây, ông cũng hết sức biện bạch mình là người Trung Quốc. Người chủ nhà trọ và mấy người Trung Hoa ở Hương Cảng cũng sẵn lòng đến làm chứng hộ ông về điều đó.

Không ngờ, sau khi ông bị bắt một hai hôm thì em ruột ông là Lương Nghị Khanh cũng đi học bên Nhật, từ Hoành Tân về đến Hương Cảng. Nghị Khanh ở dưới tàu thuỷ lên, chở hai ba rương sách vở hành lý đến nhà trọ của anh, bấy giờ mới biết sự tình anh đã lâm nạn. Người vốn ốm sẵn, Nghị Khanh thấy nhà trọ chật chội không thể ở chung, bèn gửi tạm hành lý ở đó, tất tả đi tìm nhà mấy đồng chí Trung Hoa lấy nơi trú ngụ dưỡng bệnh, đồng thời loan báo họ tìm cách giải thoát cho anh, không chậm trễ.

Trong thời gian ấy, cảnh sát Anh thình lình đến khám xét chỗ trọ Lương Ngọc Quyến:

Mở mấy rương hành lý Nghị Khanh đã gửi, chúng vớ được những hình ảnh  thư từ Lương Ngọc Quyến gửi cho em trong khoảng mấy năm gần đó mà Nghị Khanh trân trọng giữ lại coi như vật kỷ niệm quý, cả mấy bức ảnh khi hai anh em còn học với nhau ở Đông Kinh và khi Lương Ngọc Quyến còn đóng thiếu tá trong quân đội Hán Khẩu. Thế là đầy đủ “tang vật”.

Mấy hôm sau, nhà đương cục Anh ở Hương Cảng hạ lệnh trục xuất cảnh ngoại, cho giải ông xuống tàu đưa đi Quảng Châu Loan để che mắt thế gian, nhưng thực ra chúng bí mật thông tin cho bọn Pháp đón lấy mà bắt.

Ông bị giam ở Quảng Châu Loan mất vài tháng rồi đương cục Pháp ở đó giải về Đông Dương vào khoảng tháng 2 năm Ất Mão (1915).

Thoạt tiên ông bị giam trong xà lim Hoả Lò Hà Nội, để chờ xét lại án cũ. Rồi chúng giải ông lên Cao Bằng, ra trước toà án binh họp tại đó để trả lời về một vụ đánh cướp đồn lính ở bên thuỳ Quế Việt mà chúng dò biết chính ông là một người chủ động. Toà án binh muốn kết án nhưng không đủ chứng cứ, đành phải tha bổng.

Sau đó chúng đưa ông về Nam định gặp tên công sứ Tít-sô, tên này kiêm chức chủ tịch hội đồng đề hình của Pháp. Tít-sô dụ dỗ Lương Ngọc Quyến không thành công, biết ông Quyến có thân nhân ở Nam Định nên chúng gọi bà Nguyễn Phượng Trừu lên bảo bà khuyên em rể đầu hàng chính phủ. Bà Trừu từ chối nói: “Con em tôi hư, gia đình đuổi đi, nó lấy người nào tôi không biết”. Không làm thế nào được, chúng lại đành giải ông Quyến trở về Hà Nội giam vào Hoả Lò chờ Hội đồng đề hình xét lại cái án chính trị đã xử vắng mặt hơn một năm trước. Tuy không tìm đủ chứng cớ về việc ông tham gia vào các cuộc cách mạng bạo động từ 1906 tới đây, chúng vẫn kết án ông chung thân cầm cố. Dù án đã kết mặc lòng, toàn quyền Xa-rô và chánh ty liêm phóng Đông Dương vẫn cho người vào ngục thuyết phục ông, nếu chịu quy thuận thì án sẽ huỷ đi và được “trọng đãi”. Ông trừng mắt mắng nhiếc mắng thậm tệ kẻ làm thuyết khách cho Pháp. Nằm trong xà lim khi thì ông cất tiếng bi ca khảng khái, khi thì chửi rủa bọn thực dân. Vì thế bọn thống trị ghét ông cay đắng. Từ đấy có lệnh riêng cho tên giám ngục đối đãi một cách cực kỳ tàn bạo để ông phải chết dần chết mòn một cách đau khổ hơn là xử chém.

Chúng phát vãng nay đề lao Sơn Tây, mai nhà ngục Phú Thọ, đến đâu cũng giam cùm trong một xà lim hết sức chật hẹp bẩn thỉu. Suốt ngày không có lấy một phút được trông thấy ánh sáng mặt trời. Hơn bốn tháng ở ngục Phú Thọ đủ làm cho Lương Ngọc Quyến phát ốm, phát điên. Bấy giờ chúng lại giải về Hoả Lò Hà Nội.

Trong nhà lao Hà Nội, Lương Ngọc Quyến vẫn thường tuyên truyền cách mạng cho những người chung quanh. Để ngăn chặn việc tuyên truyền đó, ngày 19-10-1915, ngày 9-2-1916 và ngày 26-2-1916 thống sứ Bắc Kỳ có thư ngỏ ý với toàn quyền Đông Dương của Pháp là nếu không đưa Lương Ngọc Quyến đi giam tại Côn Đảo mà cứ giữ tại nhà lao Hà Nội thì rất nguy hiểm.

Ngày 3-3-1916, toàn quyền trả lời thống sứ là theo thống đốc Nam Kỳ thì nhà tù Côn Đảo đã chật ních cả rồi, không còn chỗ giam thêm nữa. Giữa lúc ấy thì một số nhà tù khác mới được xây xong. Nhưng thống sứ Bắc Kỳ cho là không thể đem Lương Ngọc Quyến giam tại nhà lao Cao Bằng, Lai Châu hay đảo Trà Bản (Ile de la table) được, vì những nơi này hoặc là ở tiếp giáp biên giới, hoặc là thiếu nhà cửa, không được bảo đảm, mà Quyến thì lại là một trong những người có quyết tâm, ở những nơi đó rất dễ nảy sinh ra ý đồ vượt ngục. Trái lại, nhà lao Thái Nguyên có nhiều đảm bảo hơn (nhà lao này được bố trí tốt, giám ngục là một viên chức người Pháp ở trong chính ngạch, lại đặt dưới quyền điều khiển của một viên công sứ “mẫn cán tinh tường và cương nghị”6.

Ngày 25-7-1916, Lương Ngọc Quyến bị đưa lên giam tại nhà lao Thái Nguyên. Công sứ Thái Nguyên hồi bấy giờ là tên Đác-lơ (Darles), một tên đứng đầu trong tứ hung7. Đác-lơ đọc hồ sơ của Lương Ngọc Quyến thấy kể lai lịch là con nhà văn thân, toàn gia phản đối nước Pháp, lại là thanh niên Đông du tốt nghiệp ở trường võ bị nọ kia, trong lòng căm ghét vô kể cho nên lập tâm hành hạ đến cùng cực. Ban đầu hắn bắt đi làm khổ sai mà cổ đeo gông, chân mang xích nặng nề hơn các anh em tù khác. Tự hắn đứng bên ốp việc, sừng sộ ngược đãi đủ cách, chỉ sợ Ba Quyến thừa cơ tuyên truyền cách mạng cho dân chúng hoặc là trốn thoát. Sau hắn sai dùi thủng ở giữa bàn chân thành một cái lỗ để buộc dây xích cho được chắc chắn hơn là vòng quanh cổ chân. Khổ hình ấy làm cho một chân Lương Ngọc Quyến tê liệt hẳn, không cử động gì được. Đến lúc què hẳn, không phải ra ngoài làm khổ sai, nhưng ở trong xà lim vẫn cùm xích ngày đêm. Lúc nghe viên giám ngục người Pháp đến báo cáo rằng tên tù chính trị Ba Quyến mắc bệnh tê bại và hỏi có nên nới bớt lệ cùm đôi chút không, Đác-lơ hất hàm trả lời sừng sộ:

- Mặc kệ!... Cứ cùm, chết thì chôn.

Ở Thái Nguyên hồi ấy có một trại lính khố xanh, trong số lính khố xanh ở đây có một viên đội tên là Trịnh Văn Đạt (thường gọi là Đội Cấn). Đội Cấn thấy lính tráng và tù phạm đi làm cỏ-vê thường bị tên Đác-lơ đánh đập tàn nhẫn, đánh đến máu thịt tơi bời không kể sống chết. Đội Cấn lấy làm bất bình, chẳng những oán ghét một mình Đác-lơ, lại căm thù chung cả chính sách áp chế của Pháp, có hôm nói riêng với Đội Giá, bạn thân:

- Chẳng trách các ông đang nằm bên đề lao kia họ làm cách mạng

Đề lao Thái Nguyên hồi bấy giờ có 210 tù nhân, trong đó có 42 người là chính trị phạm, ngoài Lương Ngọc Quyến có Ba Chi, Cả Thấu, Hai Vịnh, Nguyễn Gia Cầu, ông Tú Hồi Xuân, Ba Nho, Ba Quốc, Ba Lâm v.v... người thì can vào vụ ném bom năm 1913, người thì là bộ trưởng của Đề Thám bị bắt trong vụ Duy Tân.

Đội Cấn có lòng kính mến những người đã vì việc nước mà bị tù tội, cho nên thường tìm cách giao thông tin tức và giúp đỡ họ, bởi mấy người tù nhẹ vẫn được ra ngoài làm việc, hoặc là bọn lính canh gác đề lao. Nhất là đối với Lương Ngọc Quyến, càng tỏ lòng quý trọng tin phục, vì Cấn hiểu rõ gia thế, học thức của ông. Lương Ngọc Quyến cũng biết Cấn là người hữu tâm với Tổ quốc, cho nên ra sức khích lệ, hứa đem hết tài năng giúp đỡ một khi mưu đồ việc lớn. Với tư cách là uỷ viên quân sự của Bộ chấp hành Việt Nam Quang phục hội, Lương Ngọc Quyến đã đem tôn chỉ mục đích của Hội trình bày với Đội Cấn. Thế là Đội Cấn tự nguyện đứng dưới cờ Quang phục hội. Ông Quyến báo cho Đội Cấn biết là nếu ở trong nổi dậy thì quân Quang phục ở ngoài có thể về tiếp ứng.

Hai người trao đổi ý kiến tổ chức cuộc khởi nghĩa, kế hoạch này được anh em lính tráng, tù nhân tận tâm hợp lực giữ gìn kín đáo, tai mắt Tây đặt khắp nơi mà chẳng hay biết gì cả.

Khi ông sắp khởi sự, có làm một bài thơ bát cú như sau:

Học hải cầm thư lịch kỷ thu

Nam quan hồi thủ tứ du du

Bách niên Tổ quốc quy Hồ lỗ

Thất xích tàn khi phó bích lưu

Tư thế bất phùng minh thánh lưu

Lai sinh thả báo phụ huynh cừu

Thử hành hoạch yết Lam Sơn đế

Hoán khởi trùng tiêm Pháp tặc đầu

(Bể học xông pha trải bấy lâu

Thân tù ngoảnh lại nghĩ mà đau

Trăm năm đất Tổ về quân mọi

Bẩy thước thân tàn mặc nước sâu

Bạn tốt đời nay sao vắng cả8

Thù nhà kiếp khác dễ quên đâu

Hồn ta được gặp Lam Sơn đế

Quyết mượn oai lính chém Pháp đầu.)

(Đào Trinh Nhất dịch)

Khi ông đang ngồi trong xà lim, bị Pháp dùng đinh đóng xuyên từ trên mu bàn chân xuống xiết chặt lấy cùm, thì anh họ ông là Lương Văn Bao được bà mẹ ông cử lên Thái Nguyên thăm ông. Gặp anh, Lương Ngọc Quyến xúc động hỏi thăm về tình hình Hà Nội, tình hình gia đình. Vừa lúc lính canh không để ý, Quyến dúi vào anh một nắm giấy vụn.

Ngay đêm ấy, tại một quán trọ Thái Nguyên, ông Bao đã mượn chủ quán ngọn đèn, lên gác hai phòng thuê riêng của mình để xem rõ nắm giấy kia. Đó là một nắm giấy tạp nham, vừa là giấy gói thuốc lào, giấy gói chè, giấy báo vụn, giấy bản cũ... có mảnh bé lắm chỉ bằng hai ngón tay, mảnh nào cả mặt cũng đều viết chữ nôm chằng chịt. Suốt đêm dưới ánh sáng của ngọn đèn bấc tù mù, Lương Văn Bao đã ghép từng mảnh giấy kia lại rồi theo đó ghi thành một bài thơ hoàn chỉnh. Đó là bài thơ của Lương Ngọc Quyến gửi về cho vợ. Thì ra bà Nguyễn Hồng Đính khi chồng về nước vẫn ở lại Trung Quốc, đến khi nghe tin bố chồng là Lương Văn Can bị bắt giam và đày sang Nam Vang, đến lượt chồng cũng bị bắt nốt, bà liền không quản gian nan lặn lội, rời Trung Quốc lén về Nam Kỳ rồi sang Nam Vang phụng dưỡng bố chồng trong khi cụ bà Lương Văn Can vẫn ở Hà Nội. Trong khi ấy, bà đang có mang người con thứ ba, và thân sinh bà (cụ Ấm Cương) cũng vì hoạt động cách mạng mà bị Pháp bắt ai trí ở Cần Thơ.

Bài thơ chưa được gửi đi Nam Vang thì sau đó mấy ngày cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên bùng nổ.

Qua bài thơ này ta có thể thấy niềm tin tưởng lạc quan của ông vào tiền đồ cách mạng:

... Lòng người đã trung thành sốt sắng

Giời xanh kia ắt chẳng phụ mình

Mai sau bĩ cực thái hanh

Kéo cờ độc lập giữa thành Thăng Long.

Ba mươi triệu Lạc Long tôn tử

Bốn nghìn năm lịch sử quang vinh

Sơn hà rửa sạch hôi tanh giặc thù....

... Nợ trung hiếu nay đã đền đủ

Chí tang bồng chẳng phụ làm trai

Khi nên trời cũng chiều người

Nàng ơi! Xin nhớ lấy lời tình chung....

Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào 11 giờ đêm 30 rạng ngày 31-8-1917. Theo kế hoạch, tập đoàn khởi nghĩa đã giết được tên giám binh Nô-en và tên tay sai tin cẩn của nó là phó quản Lạp, tuyên bố khởi nghĩa trước sự đồng tình hoàn toàn của quân lính. Sau đó nghĩa quân phá nhà tù, giết chủ ngục, giải phóng cho các tù phạm, đầu tiên là Lương Ngọc Quyến. Đội Giá sai mấy người lính hộ vệ ông sang ngay trại lính khố xanh, nơi Đội Cấn đang chờ đợi. Ba Chi, tướng chỉ huy trong nghĩa quân Đề Thám phải cõng ông, vì ông bị cùm ác nghiệp lâu ngày một chân què liệt. Lúc tới, ban lãnh đạo khởi nghĩa đã chờ sẵn và mời ông cùng ngồi với Đội Cấn.

Đội Cấn mở hội đồng quân sự ngay lúc bấy giờ, toàn thể đồng chí bầu Cấn làm Thái Nguyên Quang phục quân Đại đô đốc, phục trách mọi việc quân, Lương Ngọc Quyến thì làm quân sư, chỉ ngồi một nơi bàn soạn chiến lược định đoạt binh cơ chứ không xông pha trận mạc được như mọi người.

Theo ông đề nghị Quang phục quân lấy cờ năm ngôi sao làm hiệu cờ cách mạng, lấy quốc hiệu là Đại Hùng, Sáng sớm, tờ Tuyên ngôn thứ nhất được dán khắp tỉnh thành hiểu dụ cho dân trong tỉnh được rõ mục đích lính ta khởi nghĩa và khuyên ai nấy an cư lạc nghiệp. Kế đến hôm sau, tờ Tuyên ngôn thứ nhì hiệu triệu cả đồng bào quốc dân, nên thừa lúc này người Pháp đang nguy khốn ở Châu Âu mà vùng dậy đánh đổ chế độ đô hộ, lấy lại độc lập tự do. (Cứ theo điều tra của công sứ Đác-lơ, vắng mặt ở tỉnh thành nên thoát chết đêm ấy, thì tờ tuyên ngôn thứ nhất do các đồng chí khởi nghĩa họp nhau thảo ngay lúc đêm, có Lương Ngọc Quyến nhuận sắc, còn tờ thứ hai thì một mình ông viết).

Ngay sau đêm làm chủ tỉnh lỵ Thái Nguyên, Đội Cấn hội ngay các bạn đồng chí phụ trách lại để bàn định phương lược tiến hành bây giờ nên như thế nào.

Người này hiến kế nên cố thủ tỉnh thành Thái Nguyên làm gốc, đào hào đắp luỹ chống cự binh giặc, hễ chúng xâm phạm thì ta đánh.

Người kia bàn rằng ngay bây giờ nên thừa lúc bên địch chưa kịp phòng bị gì cả, ta chi binh đi đánh lấy ít nhiều đồn ải phụ cận như Cao Bằng, Lạng Sơn, lấy đường giao thông với các đồng chí bên Trung Hoa và mở rộng phạm vi tăng thêm lực lượng cách mạng. Anh em binh lính các nơi ấy theo Tây chỉ vì thế bách mà thôi, nay thấy ta đến tất nhiên hăng hái hưởng ứng. Cốt sao có nhiều địa điểm đồng thời khởi nghĩa như ta, để làm thanh viện cho nhau và chia sức đối phó của quân địch ra nhiều nơi. Có tự gây nên một sức kháng chiến cho mạnh thì dân chúng mới giúp, ngoại viện mới có và đại sự mới thành.

Lương Ngọc Quyến phản đối thuyết thứ nhất vì cho rằng ta ít quân, ít súng đạn quá, không thể cố thủ tỉnh thành mà chống với giặc được lâu. Ông cũng phản đối cả thuyết thứ hai vì theo ông, có bài ba trăm quân lính súng ống thế này, làm sao chắc được thành công. Làm sao chắc được các anh em binh lính nơi ấy hưởng ứng một khi thấy ta kéo đến. Theo ông chỉ có cách này: Ta đã lấy được của Tây một số lương, tiền, súng, đạn làm vốn thì nên bỏ ngay tỉnh thành mà rút về phía biên giới Quảng Tây, đóng một nơi hiểm trở làm căn cứ, mộ nhiều quân lính, ra sức luyện tập, tìm cách mua thêm khí giới, triệu tập nhân tài ở hải ngoại về tổ chức thành những đạo binh mạnh mẽ, rồi trong gọi đồng bào hưởng ứng, ngoài nhờ nước bạn giúp đỡ, bấy giờ ta mới đủ sức giao chiến với quân thù mà làm nên việc lớn.

Phe tù chính trị mới được tự do, đều nhận chủ trương của Lương Ngọc Quyến là phải. Nhưng Đội Cấn và các bạn lính của ông hẳn vì khao khát tự chủ đã lâu, giờ muốn có muốn cố thủ một nơi, bất quá giặc đến thì đánh, cho nên Đội Cấn dùng quyền hành và tư cách Đại đô đốc, nhất định cố thủ tỉnh thành Thái Nguyên.

Mặc dù kế không được nghe theo, Lương Ngọc Quyến vẫn đem hết khả năng giúp đỡ Quang phục quân trong khi bố trí phòng thủ. Ban chỉ huy chia làm 8 đội, lập thành 8 phòng tuyến để chuẩn bị chống giặc: 5 phòng tuyến ngoài tỉnh do Lương Ngọc Quyến làm chỉ huy trưởng, 3 phòng tuyến trong tỉnh do chủ trương Cấn làm chỉ huy trưởng.

Từ hôm mồng 2 trở đi, ngày nào quân địch cũng tấn công dữ dội. Ngay phút đầu, Lương Ngọc Quyến cùng chia sẻ nguy hiểm với Đội Cấn, thân ra trước hàng trận chỉ huy tác chiến và cầm súng giết giặc, cũng như anh em lành mạnh. Hai ngày đầu, đi lại đều có xe tay cho ông. Nhưng khi chiến đấu gay go, ông phải bò từ địa điểm này qua địa điểm khác. Thấy ông què chân, Đội Cấn khuyên ông cứ ở trong trại nhưng ông không nghe. Có hôm các bạn đồng chí đã tưởng ông tử trận ở ngoài cổng tỉnh. Hôm ấy ông trở về trại muộn với một vết đạn ở cánh tay.

Từ chiều mồng 4, giặc Pháp mang ba trăm lính Tây và năm trăm lính tập ở các nơi đến, đủ cả súng liên thanh, đại bác, đồng thời hai mặt tấn công bắn vào trận tuyến của ta. Nghĩa binh chống lại cực kỳ anh dũng, nhưng vì chỉ có độ ba trăm chiến sĩ, vừa kém khí giới lại không có tiếp viện, giao chiến với giặc đã mấy ngày đêm vất vả nên mồng 5 tháng 9 dương lịch, Đội Cấn liệu thế không giữ nổi, truyền lệnh cho quân sĩ bỏ tỉnh thành rút đi. Đội Cấn xếp đặt võng cáng sẵn sàng đưa ông đi theo quân, nhưng ông nghĩ đại sự đã hỏng mất rồi, mà thân lại mang tật, không muốn đi theo quân để anh em chiến sĩ phải bận lòng vì mình, phải chậm trễ trên đường lặn lội bôn ba, mỗi bước có giặc theo sau, mỗi bước phải quay lại cự địch.

Khi đến một khu rừng cách tỉnh lỵ không xa, ông đã lặng lẽ tìm cách tự sát, vì nếu để mọi người biết, tất họ sẽ tìm cách ngăn cản, mà nếu đi theo quân thì e phiền phức cho mọi người. Sau nghĩa quân biết thì đã muộn, anh em chôn cất cho ông ở trong rừng cẩn thận rồi mới kéo đi9.

Bình luận về ông, Việt Nam nghĩa liệt sử viết:

“Thân không đầy bảy dăm thước mà lòng mạnh bằng muôn người, tuổi không quá bốn tuần mà tinh thần suốt muôn thuở, người như thế ấy há lại không khó lắm ru! Lương Lập Nham gần như thế đấy”.

Câu ấy thực đáng khắc làm mộ chí của Lương Ngọc Quyến vậy.

Theo Danh nhân quê hương, Ty Văn hoá thông tin Hà Tây, 1974

1 Theo “Lương gia tộc phả” do Lương Văn Can viết.

2 Về chuyện và vợ bỏ, có các thuyết khác: Đào Trịnh Nhất nói là đến 1905, trước khi ra nước ngoài, Lương Ngọc Quyến mới làm giấy cho vợ cải giá (vì cho rằng mình đi chuyến này có thể hy sinh, không muốn để vợ phải chờ đợi lỡ cả thời xuân). Lương Dân Nguyên nói bà này vì thấy chồng hoạt động cách mạng, sợ liên luỵ nên bỏ (bà vốn là người hoàng tộc). Sau này, khi Cách mạng tháng Tám thành công, bà đến chơi nhà bà vợ sau của Lương Ngọc Quyến, tỏ ý hối hận về chuyện ấy. Đây chúng tôi theo “Lương gia tộc phả”. 

3 Tức Pi-e đệ nhất, vị vua có nhiều cải cách xã hội ở nước Nga.

4 Tên tự của Lương Ngọc Quyến.
5 Đặng Đoàn Bằng, quê ở làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ, cùng ở trong Bộ chấp hành Việt Nam Quang Phục hội với Lương Ngọc Quyến – Phan Thị Hán là Phan Bội Châu.

6 Theo báo cáo ngày 25-9-1917 của thống sứ Bắc Kỳ gửi toàn quyền Đông Dương do Vũ Văn Tỉnh dẫn trong Nghiên cứu lịch sử.

7 Tứ hung là: Nhất Đá (Darles) nhì Ke (Ecker) tam Be (De Galambert) tứ Bít (Bride), bốn tên quan cai trị hung ác nhất.

8 Câu này Lương Ngọc Quyến có ý nói ông bị bạn báo cho Pháp bắt. Về tên này, xưa nay có hai thuyết, theo nhiều nhà cách mạng đồng thời với Lương Ngọc Quyến thì kẻ đó là Nguyễn Bá Trác.

Nhưng theo lời bà vợ Lương Ngọc Quyến kể cho con trai (tức ông Lương Dân Nguyên) thì kẻ đó tên là Thu người Hải Phòng (sau được Pháp cho làm tri phủ, gọi là Phủ Thu) khi đó là viên chức trong Lãnh sự quán Pháp tại Hương Cảng. Thu vẫn tới lui, quen biết Lương Ngọc Quyến một cách thân thiện, nay hắn trở mặt báo cho Pháp bắt ông vì biết ông có ý định sang Châu Âu, đến tận nước Pháp để thấy rõ tình hình lực lượng kẻ thù ra sao và để bí mật giao thiệp, tuyên truyền cách mạng trong đám lính mộ Việt Nam. Theo ông Trần Đình Sóc thì trong việc bắt Lương Ngọc Quyến có cả bàn tay Trác và Thu. Khi ở nước ngoài, Nguyễn Bá Trác đã có dụng tâm không tốt đối với bà Đính. Trác đã làm mật thám cho Pháp từ hồi còn ở trong hàng ngũ cách mạng. Sau Trác được Pháp thưởng công cho làm tổng đốc tỉnh Thanh Hoá.

9 Có thuyết khác nói: ông Quyến đã chết trong lúc đánh nhau quyết liệt. Một nghĩa quân dự trận này nói lại thì chính mắt ông ta đã trông thấy xác ông Quyến trên chiến trường cùng nhiều xác khác. Cách mạng cận đại Việt Nam  tập 3 khẳng định: Sáng sớm 5-9, địch từ ngoài nã đại bác dữ dội vào trại lính khố xanh tức chỉ huy sở của nghĩa quân. Tại đây, Lương Ngọc Quyến bị mảnh đại bác trúng đầu đã hy sinh. Đây chúng tôi theo lời kể của ông Trần Đình Sóc, vì ông Sóc nói sau khi nghe tin Lương Ngọc Quyến hy sinh, gia đình có cử người lên thăm ngay, được biết ông Quyến tự sát, chôn ở trong rừng.

 

theo  thanglonghanoi.gov

Bình luận