|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 0:01 GMT+7

Kiều Phú và “Lĩnh Nam chích quái”

Kiều Phú là một danh nhân xứ Đoài. Đức hạnh và công tích của ông được người đời hết lời ngợi ca; được các vua quan kính nể. Năm 1924, ông được vua Khải Định phong làm Trung đẳng thần. Cuộc đời vượt khó thành danh của ông như một tấm gương cho các bậc hậu sinh noi theo.


quangninh24h kieu-phu-va-linh-nam-chich-quai-news

Sinh năm 1446, ở làng Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất. Thuở nhỏ, Kiều Phú phải cùng mẹ tha hương đến xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai (nay thuộc Hà Nội) sinh sống. Mẹ ngày ngày đi cày thuê, cuốc mướn. Còn cậu Phú ngày nào cũng cắt cỏ, chăn bò thuê cho một phú ông. Một hôm, Kiều Phú đang chăn bò trên cánh đồng gần làng, bỗng thấy đoàn người áo the, khăn lượt, gồng gánh nhiều đồ lễ vật đi ngang qua. Cậu chạy đến hỏi người trưởng đoàn: “Đó là đồ lễ vật gì vậy?” Trưởng đoàn nhìn cậu rồi nói: “Nhà ngươi thì muôn kiếp cũng không thể có được những đồ lễ vật này”. Uất hận trước câu nói ấy, Kiều Phú dắt bò về nhà xin mẹ cho đi học. Nhưng cơm còn không đủ ăn, lấy đâu ra tiền theo học. Thương mẹ, Kiều Phú bí mật bơi qua một cánh đồng mênh mông nước, sang bờ bên kia để “học lỏm” ở nhà một nho sinh con nhà giàu. Ngày ngày Kiều Phú đứng ở sau bức tường nghe “lỏm” và vạch xuống đất tự học chữ Hán. Thời gian qua đi, cuối cùng cậu cũng không thể giấu nổi được người mẹ hiền. Tận mắt thấy con trai hiếu học, mẹ cậu không cầm nổi nước mắt, vừa tủi thân vừa vui sướng. Bà đưa con đến gặp trạng nguyên Nguyễn Trực (1417 - 1473) lúc ấy đang ở quê, dạy học, xin cho Kiều Phú được thụ giáo. Buổi học đầu tiên, Kiều Phú đã làm cho thầy giáo và các bạn đồng môn bất ngờ. Thầy giáo hỏi những bài học cũ mà trước đây Kiều Phú chưa được nghe giảng, cậu đều trả lời vanh vách. Nguyễn Trực càng yêu quý cậu học trò nghèo. Thầy miễn cho cậu tiền học phí, còn vận động các bạn cùng lớp quyên góp tiền  để mua quần áo cho cậu. Không phụ lòng của thầy và các bạn, Kiều Phú ra sức học, trở thành cậu học trò xuất sắc nhất trong vùng.

Văn bia ở Văn Miếu Hà Nội, đề năm Hồng Đức thứ 15 (1484) ghi: Qua kì thi Hương năm Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475), Kiều Phú dự kì thi Hội. Khoa này có 3.200 người dự thi, lấy đỗ được 43 người. Kiều Phú đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp – như thế Kiều Phú xếp sau Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Thi đỗ, nhưng vì mẹ tuổi cao, sức yếu, Kiều Phú ở nhà phụng dưỡng, sau đó cư tang mẹ. Ba năm hết tang, ông được vua Lê Thánh Tông cho sứ giả về tận nhà đón ra kinh đô, phong chức Tham chính.

Sau này ông còn được nhà  vua phong chức Ngự sử sung Thái Nguyên trấn ti đề hình và nhiều chức khác. Ngoài sự nghiệp chính trị, Kiều Phú còn để lại cho đời sau nhiều áng văn chương uyên bác thấm đượm tinh thần yêu nước, giáo dục người đời về lòng tự tôn dân tộc và niềm tự hào về nền văn hiến nước nhà. Trong số những tác phẩm ấy, đáng nói là bộ sách “Lĩnh Nam chích quái” là sưu tập văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, chép tay bằng chữ Hán. Tác giả của nó là Trần Thế Pháp (chưa rõ năm sinh, năm mất), sau đó được Kiều Phú và Vũ Quỳnh (sống ở thế kỉ XV) hiệu chỉnh, bổ sung thành 2 quyển, gồm 22 truyện. Nội dung chủ yếu của “Lĩnh Nam chích quái” là những truyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, dã sử từ thời thượng cổ đến thời Trần. Có truyện giải thích nguồn gốc dân tộc như truyện Hồng Bàng, truyện Mộc Tinh…Có truyện kể sự tích các nhân vật tài giỏi, các bậc anh hùng như truyện Phù Đổng Thiên Vương, truyện Hai Bà Trưng…Hoặc có truyện giải thích phong tục, tập quán như truyện bánh chưng, truyện cây cau…Lại có truyện liên quan đến các di tích văn hoá, lịch sử như truyện Rùa vàng, truyện Như Nguyệt…Mặc dù còn mang tính huyền thoại nhưng “Lĩnh Nam chích quái” có nhiều giá trị sử liệu. Học giả Hoa Bằng nhận xét: “Lĩnh Nam chích quái có tác dụng bổ sung quốc sử, qua những câu chuyện truyền miệng trong dân gian để tìm nguồn gốc của dân tộc”. Năm 1960, nhà xuất bản Văn học đã dịch tác phẩm này ra chữ quốc ngữ.

Công thành danh toại, Kiều Phú không quên ơn người thầy giáo đáng kính đã cưu mang và dạy dỗ mình năm xưa. Ông đem hết bổng lộc nhà vua ban tặng đổi lấy hai đầm lớn là Đầm Bái và Đầm Me, thuộc thôn Văn Khê, xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, để hằng năm dân chúng cấy lúa và thả cá lấy kinh phí làm lễ cúng giỗ thầy. Ông qua đời ngày 13 tháng Giêng năm Quý Hợi (1503) khi tài năng đang độ chín.

Nhớ công ơn Kiều Phú, dân làng đã lập nhà thờ ông ở làng Liệp Hạ, xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai.

Nhà thờ Kiều Phú nằm ở giữa làng, nhìn ra hướng Đông – Nam, gồm ba gian hai chái, xung quanh là tường xây bằng đá ong, trên có ba vì kèo gỗ, mái lợp ngói ri cổ. Nhà thờ được làm theo kiểu chữ “nhất” (-), có chiều dài 12m, rộng 5,85m, các vì kèo chính làm theo kiểu “kẻ chuyền, giá chiêng”. Hệ thống cột cái cao 3,40m, cột quân cao 2,70m và bờ nóc cao 4,30m. Các con rường đều được chạm trổ công phu cả hai mặt với các hoạ tiết hoa lá cách điệu. Các bức cốn được chạm hoa văn triện. Đáng chú ý nhất là khám thờ, long ngai, bài vị đều được sơn son thếp vàng. Khám được chạm nổi hình hạc chầu đăng đối. Hoa văn chữ thọ và mây soắn. Trên cùng là hai rồng chầu mặt trăng. Nhà thờ được xây dựng từ thời Lê, trải qua nhiều lần tu sửa. Kiến trúc hiện tại được khởi dựng lại vào thời Nguyễn.

Liên quan đến di tích này, còn có khu Từ chỉ. Từ chỉ xây dựng như một khu lăng mộ có ban thờ. Tương truyền nơi đây từng là nơi dạy học và sinh sống rất đạm bạc lúc cuối đời của ông.

Nhà thờ Kiều Phú là nơi tưởng niệm tiền nhân và cũng là một thắng cảnh rất đáng tự hào của địa phương.

Nhà thờ đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá ngày 10-1-1995.

Theo HanoiTV

Bình luận